In

 

 

 

Cây Bách Của Rừng Liban ( Hoa Huệ Giữa Chông Gai )

Danyun
Tác giả: Danyun

Lời Giới Thiệu

 

 

 

china_christian-1

*Những Câu Chuyện Làm Chứng Về Anh Hùng Đức Tin Tại Trung Quốc

Thưa các bạn tín hữu!
"Hoa Huệ Giữa Chông Gai" là một tác phẩm gồm 8 câu chuyện làm chứng về những anh hùng đức tin tại Trung Quốc. Đức Chúa trời đã dùng những con người tầm thường để hoàn thành những công việc vĩ đại của Ngài tại Trung Quốc. Đó là công việc rao truyền ơn cứu rỗi cho các dân tộc duới ách thống trị của nhà cầm quyền cộng sản vô thần tại Trung Quốc, và thống nhất Hội Thánh Chúa trên đất nước rộng lớn này.
Tám câu chuyện là những lời chứng được đóng dấu bằng máu và nước mắt, nhưng không kém phần hùng tráng. Từ trong tối tăm của sự đọa đày và nhục hình, những địa ngục trần gian, phát lên những lời nguyện cầu, những tiếng hát từ những con tim đã hiến dâng trọn vẹn cho Chúa, vượt không gian đến tận Ngôi Thánh của Đức Chúa Trời, làm thứ hương thơm dâng lên cho Ngài, và vượt cả thời gian chạm đến hàng triệu con tim của các thánh đồ để minh chứng rằng: "Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Chúa Giê-xu Christ." (Phi-líp 4:7).

Ban Biên Tập.

 

tiếp theo bấm trang 1 ở trên...

P1

Cây Bách Của Rừng Liban ( Hoa Huệ Giữa Chông Gai )

 

CÂY BÁCH CỦA RỪNG LIBAN

 

ForestofThecedarsofGod

Mao tiên sinh ra đời năm 1916. Lúc còn trẻ, anh chống đối đạo Chúa kịch liệt. Anh khinh bỉ Cơ-đốc giáo và dùng mọi cơ hội để phỉ báng những người tin Chúa.
Vào đầu năm 1948, anh bị một căn bệnh vô phương cứu chữa, anh đã làm tất cả những gì mình có thể làm, để được chữa lành. Khi các bác sĩ ở quê anh đã bó tay, anh đi lên bịnh viện lớn nhất ở tỉnh. dốc hết tiền vào sự chữa chạy. Nhưng chỉ vài tuần sau thì họ cho anh về, vì họ cũng không giúp gì được cho anh.
Anh nằm ở nhà tuyệt vọng chờ chết, thì có người bà con đến thăm anh, và giục lòng anh tin Chúa Giê-xu. Đang trong lúc tuyệt vọng, Mao đã bám vào cọng rơm duy nhất còn lại này vì nó còn có thể mang hy vọng đến cho anh. Sau vài lần nói chuyện với người bà con, anh đã quyết định: Nếu như Giê-xu này có thể giúp anh thực sự, thì anh sẽ từ bỏ tất cả những thái độ chống đối Cơ-đốc giáo. Bây giờ, nó liên hệ đến sự sống còn của anh, và anh cũng chẳng mất mát gì.
Nên anh đã quyết định làm một thử nghiệm là cầu nguyện với Chúa Giê-xu, Khi anh hứa rằng anh bắt đầu một cuộc sống mới với Chúa Giê-xu, thì anh đã nói bằng sự nghiêm túc và chân thành. Ngay lập tức anh kinh nghiệm được một sự bình an mới mẻ trong tâm hồn và xua tan mọi sự sợ chết đang dày vò. Trong những ngày kế tiếp, tình trạng sức khoẻ của anh tiến triển khá hơn. Bây giờ anh muốn biết ông Giê-xu này là ai mà lại giúp đỡ anh quá rõ ràng, mặc dù từ trước tới giờ anh toàn chống đối Ngài. Anh tận dụng mọi cơ hội để tìm hiểu thêm về Đức Chúa Trời và Thánh Kinh. Mấy ngày sau đó, anh hoàn toàn bình phục. Kể từ lúc đó, không có gì làm anh say mê hơn là gần gũi Chúa và Lời của Ngài.
Chỉ bảy tuần lễ sau, anh được một mục sư cử đi giảng ở một vùng nọ. Đó là bắt đầu của cuộc đời làm mục sư và rao truyền Tin Lành. Anh đã hầu việc Chúa rất tận tụy. Anh càng nhận biết Ngài thì càng yêu mến Ngài hơn, và càng kinh nghiệm quyền năng và sự gần gũi Chúa nhiều hơn. Anh không hề sợ hãi trước những sự tấn công và bắt bớ vì đức tin.

Sáu năm sau vào mùa đông năm 1954, Mao bị mời lên chính quyền địa phương. Những người trong quân đội nhân dân và công an đả kích anh kịch liệt và tìm cách cải tạo anh. Người chỉ huy hỏi cung anh là một cán bộ đảng địa phương, giải thích cho anh về những điều then chốt của chính sách tôn giáo: "Niềm tin vào Chúa Giê-xu là nọc độc của chủ nghĩa đế quốc và phương tiện của phản động nước ngoài. Dân tộc chúng ta chỉ tin vào chủ nghĩa Mác-xít. Chúng tôi nghiêm cấm anh tin vào Chúa Giê-xu, nếu anh còn tiếp tục tin, thì anh sẽ bị coi là phản cách mạng...". Sau khi người cán bộ nói xong, thì ra lệnh cho Mao phải từ bỏ đức tin mình, và phải viết một tờ tuyên bố ly khai với nhà thờ.
Mao trả lời bằng giọng điềm tĩnh: "Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Rỗi đời sống tôi, nếu không có Ngài thì chắc hôm nay tôi không còn nữa. Trong khi tôi bị bệnh chỉ còn chờ chết, thì Ngài đã đến chữa lành tôi. Nếu tôi chối bỏ Ngài, thì tôi thật vô ơn với Ngài. Tôi không thể làm theo lệnh của các ông được." Khi những người công an nghe những lời đó thì họ giận dữ, và bắt đầu đấm đá anh túi bụi. Mao đã cầu nguyện khẩn thiết, xin Chúa giúp sức cho mình, để khỏi phải sợ hãi trước những đau đớn. Anh không thể nào muốn phản bội niềm tin của mình, nhưng với sức lực con người thì khó có thể chịu đựng nổi cuộc tra tấn này. Và khi những đòn tra tấn đổ xuống trên thân thể anh, anh kinh nghiệm được sự vui mừng siêu nhiên, càng ngày càng đầy dẫy anh càng thêm. Anh cảm nhận Đức Thánh Linh gần gủi mình và rất dễ chịu. Mặc dù những kẻ tra tấn dùng đủ biện pháp, cũng không đạt được ý nguyện là khuất phục ý chí của Mao. Họ gán cho anh là phản Phát-xít và nổi loạn chống "chủ tịch vĩ đại". Anh bị chụp mũ là tên phản cách mạng và bị công an canh giữ. Ít lâu sau đó, chính quyền lên án anh đã cấu kết với các tổ chức phản động nước ngoài. Mấy ngày sau đó anh bị bắt giam. Vào khoảng cuối năm 1954, anh bị kết án 5 năm tù và phải bị đi cải tạo ở một trại cải tạo thuộc tỉnh H là vùng lạnh nhất Trung Quốc. Ở đó, anh đã trung thành với niềm tin và còn làm chứng cho bạn tù về Chúa Giê-xu. Vì vậy án tù của anh đã tăng lên 10 năm. Vậy là anh phải chịu 15 năm sống trong trại tù cải tạo và lao động ở miền đông bắc Trung Quốc.

Đó không phải là thời gian nhẹ nhàng. Anh ở trong một trại tù vô nhân đạo, nền đất quanh năm phủ tuyết băng giá. Anh thường xuyên bị tên cai ngục đánh bằng roi da hay phải bị tra khảo không ngớt. Tại nơi quê nhà xa xôi anh không còn cha mẹ, anh chị em hay Hội Thánh đứng đằng sau mình. Niềm an ủi duy nhất của anh, đó là lời cầu nguyện của người vợ trẻ và những lời khích lệ trong những lá thư chung thủy và dạt dào tình cảm.
Vào năm tù thứ hai, anh phải nói với người vợ trẻ yêu dấu của mình là anh đã phải bị tăng án tù từ 5 năm lên đến 15 năm. Anh cảm thấy lo lắng cho vợ mình, nàng sẽ chịu đựng ra sao khi nghe cái hung tin này ? Một thời gian lâu, anh không nhận được thư trả lời của vợ. Sau cùng, lá thư đã đến, đó là một sự chấn động kinh hoàng, sự đau đớn nhất mà anh chưa từng thấy. Sau khi vợ anh nghe tin án tù của anh đã tăng lên 15 năm, đó là thời gian dài, sự lạnh giá, và đói khát, thì nàng đã từ bỏ niềm hy vọng được nhìn thấy chồng mình, nên đã yêu cầu Mao đồng ý cho nàng ly dị.
Mao vừa đọc xong lá thư, anh vẫn còn chưa tin ở mắt mình, sau khi người đề nghị ly dị đó lại là vợ mình, thì một sự hốt hoảng đã ập đến anh, khiến anh bị ngất đi. Về sau, anh suy nghĩ về hoàn cảnh của mình, anh mới cảm thấy đau đớn, vì bây giờ anh không còn ai ở bên cạnh nữa, cả người vợ yêu dấu của anh cũng bỏ anh, nàng là người duy nhất trên trần gian này, là người giúp đỡ và cầu nguyện cho anh.
Anh cảm thấy mình bị bỏ rơi và bất hạnh, anh không còn biết gì đến sự lạnh giá, anh đã mở toang cánh cửa phòng và chạy ra một khu rừng nhỏ, ở đó anh quỳ xuống cầu nguyện và khóc sướt mướt với Chúa. Nỗi đau đớn đầy trong anh, đến nỗi không thể nói thành lời được. Anh cứ để cho nước mắt mình trào ra. Rồi bỗng nhiên anh nghe thấy tiếng êm dịu của Đức Thánh Linh phán rằng: "Con phải nhịn nhục để làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời, sau đó con sẽ nhận ra lời hứa." Liền tức thì, anh nhớ đến Thi-thiên 73:25: "Ở trên trời tôi có ai trừ ra Chúa, còn ở dưới đất tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa."
Sự hiện diện của Đức Chúa Trời dần dần an ủi anh, và nỗi đau đớn anh tan dần. Sau khi anh trút hết tấm lòng mình cho Chúa, thì anh bắt đầu hát bài này:
" Gia đình tôi đã ngoảnh mặt khỏi tôi. Các bạn bè tôi chế nhạo tôi. Ngài ban cho tôi sự nhịn nhục và kiên trì. Để chịu đựng sự nhục nhã. Chúa ơi, con yêu Ngài với tất cả trái tim. Con yêu Ngài hết lòng bây giờ và mãi mãi. Cho dù biển cạn và đá ghềnh tan nát. Chúa ơi, con yêu Ngài với tất cả trái tim."
Sự gần gũi và êm ái của Thánh Linh bao phủ anh, Đức Chúa Trời của anh sẽ không bao giờ lìa bỏ anh như lời Ngài đã hứa. Bằng một giọng nhỏ nhẹ anh cảm tạ ơn Ngài, vì tình yêu vĩnh cửu của Ngài. Ngài thật xứng đáng dể phó thác mọi sự trong tay Ngài. Nếu giả sử không còn ai cầu nguyện cho anh thì Chúa Giê-xu luôn ở bên Cha để cầu nguyện cho anh. Đức Thánh Linh nhắc nhở cho anh nhớ lại tất cả những lời an ủi trong Thánh Kinh, để cho anh thấy tình yêu cao cả của Chúa, dần dần anh trở nên bình tĩnh. Anh có thể tha thứ cho người vợ của mình, có thể chúc phước cho cô, và anh cảm tạ Đức Chúa Trời là Đấng săn sóc anh bằng sự an ủi và động viên anh trong những năm tháng sắp đến ở trước mặt anh. Anh từ từ đứng lên trở về phòng giam. Ngay trong buổi tối hôm đó, anh đã viết bức thư cho vợ mình, tuyên bố mình đồng ý ly dị.

Ở trong trại cải tạo lao động trong đó có tất cả 1,300 tù nhân, nhưng số người tin Chúa rất ít. Bởi vì Mao là tín dồ, nên anh thường xuyên bị theo dõi. Những công an chìm trà trộn khắp mọi nơi, không rời mắt khỏi anh. Vào một ngày kia, anh đang làm chứng cho các bạn tù về Chúa Giê-xu, thì có những kẻ giám sát rình nghe trộm được. Nhiều lính canh xông vào trói anh, rồi đem lên phòng quản lý nhà tù. Ở đó, chúng bắt anh quỳ trên một chiếc ghế gỗ có bề ngang chỉ bằng bốn ngón tay. Chúng thay phiên nhau xông vào đấm vào mặt anh, nhổ vào mặt anh và lấy làm thích thú nói: "Đấng Cứu Thế của mày ở đâu rồi hả, hãy nói với Ngài đến mà báo thù chúng tao." Mao quỳ trên ghế gỗ và cứ để cho điều đó diễn ra mà không trả lời một tiếng nào. Trong lòng anh cầu nguyện không thôi. Anh tha thứ cho những kẻ hành hạ mình, và xin Thánh Linh ban sức lực cần thiết cho anh. Sự hiện diện của Chúa đã đưa anh khỏi cơn gian nguy này, trong lòng anh đầy sự bình an và vui mừng vì kinh nghiêm được sự gần gũi Chúa hơn mọi sự tấn công và đau đớn. Hằng giờ đồng hồ qua, những giây trói gắn chặt vào tay chân anh bị tê dại, cuối cùng anh thấy tối sầm ngã quị xuống đất và ngất đi.
Có lần chúng đeo lên cổ anh một tấm vỉ sắt của lò sưởi bằng gang, nặng hơn 20 cân, trên đó chúng gắn một tấm bảng đề là: "Mao, tên cầm đầu mê tín dị đoan, phản cách mạng." Anh phải đeo nó đi vòng quanh ngoài nhà tù. Khi chúng cảm thấy tất cả những thứ đó chẳng ích gì, và dường như Mao thà chết còn hơn là từ bỏ niêm tin, thi chúng dùng đến biện pháp cứng rắn nhất. Chúng xiềng tay anh lại và trói chân anh vào một khúc gỗ bị chôn chặt dưới đất, và anh cứ phải ở yên như vậy trong mấy tháng liền trong một xà lim cá nhân không có cửa sổ. Nhưng điều đó cũng không thể khuất phục được đức tin của Mao, vì Chúa luôn ở bên anh, và những sự đày đọa bên ngoài không thể so sánh được với sự tốt lành của Chúa ở bên trong mà anh kinh nghiệm dược.
Vào một mùa đông buốt giá, nhiệt độ ở khắp tỉnh H giảm xuống 45 độ. Nhiều người già và yếu bị chết cóng. Đồng thời có một bịnh truyền nhiễm lan tràn trong vòng trại tù. Những tù nhân mắc bệnh bị sốt cao và chân tay run rẫy, rồi chết. Đó là một cảnh tượng đầy tang thương. Trong vòng ít ngày đã có 1,050 người chết trong số 1,300 tù nhân. Những người có trách nhiệm, đã cho đào một hố lớn, và cho xe tải chở xác chết đẩy xuống hố chôn người tập thể.

china_christian-7

Mao cũng bị chứng bịnh kinh khủng đó. Khi người bác sĩ đã kiệt sức và thiếu ngủ đến khám cho anh và lắc đầu nói với những người đứng canh chung quanh: "Lại thêm một người nửa." Chúng đem anh vào một phòng riêng cất xác người trước khi chở ra xe đẩy xuống hố chôn tập thể. Vậy anh nằm ở đó nửa sống nửa chết ở giữa các xác chết. Nhưng tâm linh anh vẫn tỉnh táo, anh cầu nguyện với Chúa rằng: "Chúa ơi, xin Ngài hãy cứu sống con, đừng để con chết ở chỗ vô thần này, Hãy chữa lành con và đem con trở về bình an, con nguyện sẽ hầu việc Ngài mỗi ngày còn lại của đời con, con muốn rao truyền Tin Lành cho Ngài như Ngài đã cho phép con." Ngay lúc đó có một Thiên sứ hiện ra trước mặt Mao, Thiên sứ mặc áo trắng và gương mặt ngài tỏa chiếu vinh quang của Chúa. Trên lưng ngài đeo theo một túi y tế, mang hình thập tự giá, ngài nói với Mao một giọng rất êm dịu: "Anh là Mao phải không ? Đừng sợ, hãy tin mà thôi." Rồi thiên sứ giơ tay phải ra nắm lấy tay Mao và đem ra khỏi căn nhà. Thiên sứ đem anh đến một phòng rất đẹp, căn phòng có màu trắng không thể tả được, và ngài đặt anh ngồi trên một ghế màu trắng. Thiên sứ cầm lấy ống nghe bịnh, đem bỏ vào đó một bịch thuốc màu trắng, và thổi qua ông nghe bịnh đó. Trong lúc đó Mao có cảm giác lành lạnh dễ chịu và bắt đầu thấy tươi tỉnh. Sau khi anh tỉnh lại thì căn bịnh đã rời khỏi anh. Lập tức anh quỳ xuống giữa những xác chết nằm ngổng ngang trên mặt đất mà tạ ơn Đức Chúa Trời. Anh lại hứa nguyện dâng đời sống mình cho Chúa và để Ngài sử dụng anh vô điều kiện. Sau đó, anh nhanh chóng rời khỏi nhà xác và chạy đến gặp bác sĩ. Khi bác sĩ thấy anh đi vào thì toát mồ hôi lạnh, hoảng sợ, nói ú ớ: "Anh...anh...anh là một con ma!". Xin ông đừng sợ, tôi là Mao đây, Đức Chúa Trời đã chữa lành cho tôi, Chúa Giê-xu đã cứu tôi thoát chết, Ngài đã sai tôi đến chỉ cho ông con đường đến với Chúa, xin ông hãy tiếp nhận Chúa Giê-xu đi."
Người bác sĩ nghe thấy điều đó, lập tức quỳ xuống và nói: "Đức Chúa Trời của anh là có thật. Chúa Giê-xu là Chúa hằng sống. Bây giờ tôi cũng muốn tin Ngài, xin Ngài tiếp nhận tôi."
Mao đã nhiều lần chứng kiến Chúa cứu anh khỏi nanh vuốt của tử thần ra sao. Ở một miền đất không có sự sống, đầy băng tuyết, phải chịu đựng 15 năm ròng rã, bị phó cho những sự tra tấn đầy đọa dã man, anh còn sống được thì đó là một phép lạ. Đa số những người bị đem đến trại cải tạo H đều chết trong những năm đầu tiên. Nhưng trong thời gian dài bi tù đày ở H, làm thế nào mà Mao có thể sống sót được?. Khu rừng nhỏ bên cạnh đó là điều bí mật của anh. Bất cứ lúc nào thuận tiện anh đều rút vào khung trời tự do nhỏ bé này, hầu hết là vào ban đêm, khi tất cả mọi người đã ngủ hết thì anh ra đó cầu nguyện, và anh đã nhận được sức mới từ Đức Chúa Trời, một sức mạnh thậm chí vượt qua khỏi sự chết và sống một đời sống đắc thắng trong những hoàn cảnh kinh khủng.

Rồi ngày Mao tiên sinh được thả ra đến, 15 năm ở trong trại lao động cải tạo lùi lại sau lưng Mao như một cơn ác mộng. Lúc ông ngồi trong toa tàu vào năm 1969, chở ông về tỉnh nhà, trong lúc suy nghĩ, ông tràn đầy sự biết ơn, dù rằng nhớ lại những đau thưong, trong đó có cả máu và nước mắt, ông đã kinh nghiệm được sự gần gũi của Đức Chúa Trời, và sự nương náu trong Ngài. Đồng thời, sự suy nghĩ của ông cũng vượt nhanh hơn chuyến tàu. Ông không ngớt nghĩ đến cảnh gặp gỡ anh chi em con cái Chúa, và những điều mình sẽ kể cho họ nghe. Có biết bao nhiêu phép lạ mà ông đã kinh nghiệm trong những năm qua. Ông vui mừng vì sẽ được chia xẻ cùng các bạn bè ở quê hương về những kinh nghiệm này. Nhưng ông chưa biết là thời kỳ hoạn nạn của ông chưa chấm dứt, đang còn những sự bắt bớ tiếp tục chờ đợi ông.
Trong khi Mao tiên sinh còn ở trên chuyến tàu dài ngày, và cuối cùng đến tới mảnh đất quen thuộc trước đây từng là quê hương mình, thì ông chưa thể hình dung hết những điều gì đã xảy ra ở dưới cuộc cách mạng văn hóa. Ông không biết rằng cuộc cách mạng này đã lan tràn khắp nơi, và đến cả những nơi xa xôi hẻo lánh nhất. Những công nhân viên và quan chức của chế độ cũ bị nghi ngờ, đều được giải đi công khai trên đường phố để đến các cuộc đấu tố. Đó là những chuyện xảy ra ở thời kỳ cách mạng văn hóa. Họ bị tra khảo, bị mắng chửi, bị đánh đập, và bị bắt ép như tự tố giác mình. Và cuộc sống của những người xưng nhận niềm tin công khai lại càng ở trong sự bắt bớ nguy hiểm.
Khi Mao tiên sinh vừa đặt chân đến chỗ ở mới của mình, thì ông bị chính quyền địa phương mời lên. Những cán bộ hỏi ông: "Sau khi ông đã ở trong trại cải tạo 15 năm, ông có từ bỏ niềm tin của mình không ?" Mao suy nghĩ về sự hiện diện của Chúa mà ông đã thường xuyên kinh nghiệm trong suốt 15 năm qua, cho dù ông cảm thấy yếu đuối và cho dù sự tấn công có điên cuồng và tàn bạo đến đâu, thì ông đã được kinh nghiệm và quyền phép của Đức Thánh Linh một cách đặc biệt. Nhưng làm sao ông có thể giải thích cho những người này hiểu được là sống trong sự tương giao với Chúa là tuyệt vời dường nào!. Ông cảm thấy vài cặp mắt long sòng sọc như muốn ăn tươi nuốt sống ông, và ông trả lời một cách quả quyết: "15 năm qua sống trong trại lao động cải tạo đã không làm cho niềm tin của tôi yếu đi, trái lại nó đã góp phần làm cho mối quan hệ của tôi với Chúa Giê-xu càng khắng khít hơn, và niềm tin tôi càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết."
Ngay lập tức, Mao tiên sinh tuy vừa mới ra tù lại bị đánh đập túi bụi bằng đấm đá và gậy gộc. Vào năm 1970, chính quyền địa phương lại ra lệnh bắt giam ông, và bắt ông phải tham gia một khóa huấn luyện cải tạo. Tham gia khóa này, phần lớn là đầu trộm, đuôi cướp, chủ chứa, chủ sòng và những thành phần không muốn hội nhập vào trong xã hội. Những người này hay bộc lộ sự cứng cỏi và bản lãnh của mình. Nhưng giờ đây đối diện với bạo lực chuyên chính của nhà nước, thì trông họ như những võ sĩ bại trận nhục nhã. Họ đi lướt thước với đôi vai thòng xuống, và một sự bạc nhược tràn ngập trên họ. Mao phải sống chung với họ suốt 73 ngày, và dù họ có thường xuyên khiêu khích ông, hay thậm chí đánh đập ông, nhưng ông không để bị mất tinh thần. Bất cứ lúc nào thuận tiện, ông đã hát và cầu nguyện nho nhỏ. Có khi ông đang nhắm mắt cầu nguyện tạ ơn trước bát cơm, thì đã có người lén lấy cắp của ông. Nhiều cú đấm của sự điên cuồng và khiêu khích do bị dồn chứa lâu ngày đổ lên đầu và thân thể gầy còm của ông.

Một ngày kia có một tu sĩ Phật giáo nổi tiếng bị bắt giam và ở cùng một lớp huấn luyện với ông. Ông tu sĩ này bị rơi vào tình trạng khủng hoảng tột độ, hết sức tuyệt vọng và nản chí, đến nỗi ông đã nghĩ đến chuyện tự tử. Một lần nữa, các tù nhân bị bắt buộc phải tham gia một cuộc diễn hành trên đường phố. Trong khi Mao đã nhiều lần tham gia rồi, còn đối với tu sĩ này là lần đầu tiên phải tham gia một cuộc diễn hành như vậy. Trong những ngày đó những cuộc đấu tố thường xảy ra. Một cái mũ dài thòn như mũ thằng hề được đem đội trên đầu các tù nhân. Cứ như vậy họ phải đi đi lại lại trong các đường phố tư sáng đến chiều tối. Trên mũ đề tất cả các tội phạm có thễ có của người đó. Dân làng thường là những hàng xóm và bạn thân của nạn nhân hô lên những lời đấu tố họ. Người ta xui trẻ con ném đá vào những kẻ tội phạm đã thú tội. Tiếng hoan hô reo hò nổi lên. Khi có một đứa trẻ chạy ra giữa đường đánh vào tù nhân, hay ném rác vào mặt họ. Đó là những giờ phút nhục nhã mà các tù nhân phải chịu đựng.
Vào buổi tối, khi mọi người trở về nơi mình bị nhốt, thì người Phật tử bắt chuyện với Mao và hỏi: "Hôm nay tôi quan sát ông trên đường phố, trông ông bước đi dõng dạc và hiên ngang, làm sao ông có thể quên được điều đang xảy ra quanh mình ? Mao tươi cười trả lời: "Tôi là người theo Chúa Giê-xu, Chúa của tôi đã sống lại từ cõi chết, Ngài có thật, và tôi đi đâu thì Ngài cũng đi với tôi. Nhờ được ở bên cạnh Ngài, tôi có sự bình an lớn, và sự vui mừng vô biên. Đối với ông không như vậy sao ? Vì ông là người theo Phật Thích ca, thì chắc ngài phải đến và an ủi ông?". Người Phật tử không đáp lại lời đó được.
Vào một buổi chiều đặc biệt nóng bức, không một làn gió, sức gió như đè lên mọi người. Mao phải cùng với các tù nhân khác tham gia một cuộc đấu tố. Những cán bộ ra lệnh cho một vài tù nhân đi trói những người được đem lên buổi meetting hôm nay. Số tù nhân đi trói tỏ vẻ khoái chí khi được thi thố bạo lực. Chúng siết dây trói thật chặt, đến nỗi làm người bị trói phải kêu la. Rồi họ được xe tải đem đến một chỗ đấu tố.
Bên cạnh những cuộc cổ võ rầm rộ, thì đây là một phương tiện thường được dùng trong những cuộc cách mạng văn hóa, để chống lại tất cả các Phật tử khả nghi của cách mạng, hay đơn giản chỉ vì họ quá giàu, hay học vấn quá cao. Nhưng các Cơ-đốc nhân cũng đặc biệt hay bị lâm vào vụ này. Nếu có một cuộc đấu tố được tổ chức, thì trước đó hàng giờ đồng hồ các xe tải chạy qua các đường phố phát loa phóng thanh, thông báo về thời gian của buổi đấu tố. Sự tham gia là nghĩa vụ của mọi người. Những bục khán đài được dựng lên tại những nơi xa xôi nhất, ở trong những làng mạc hẻo lánh nhất. Các tội đã thú nhận của các nạn nhân đã được đọc lên cho công chúng nghe. Nó có thể liên quan đến việc chứa chấp một đĩa nhạc Beethoven, một cái quần ngoài tiêu chuẩn, hay một thái độ mập mờ chống đối đảng. Chiếu theo những lời đó, lính hồng vệ binh hô to lời tuyên án. Những người trong công chúng được yêu cầu bước lên để vạch mặt "phần tử tội phạm".
Có những cha mẹ bị con trai hay con gái mình đấu tố. Có những học sinh gán cho các thày cô giáo mọi tội tùy ý thích, như một sự trả thù của bản thân, có lẽ vì thày cô đã có lần đánh trượt chúng, hay là trong quá khứ đã làm chúng bị mất mặt với bạn bè.
Vào giờ khắc được ấn định trước, có tiếng hô từ trong đám đông: " Đủ rồi, chúng tôi muốn sự công bình. "Những người khác hùa theo, rồi tất cả cùng la to: "Sự công bình, sự công bình." Một cán bộ hỏi qua loa phóng thanh đặt ở trên xe tải: "Có tội hay không có tội." Khung cảnh diễn ra giống như một sự đánh cá cược, xem ai là tội to nhất?. Chính mình mà không tham gia vào, cũng phải bị quỳ lên khán đài trước đám đông để tiếp nhận sự công bình.
Mao và các tù nhân khác được chở trên xe thùng đến chỗ đấu tố. Ông và mọi người cùng đi để nhìn thấy từ xa một số đông người đang tụ tập chung quanh một khán đài được dựng gấp lên bằng những tấm ván. Theo thứ tự, Mao là người đầu tiên bị kéo xệch lên trên một cách dã man. Những cán bộ đảng từng người một bước ra, và gán cho ông những tội phạm hung bạo và ghê tởm nhất. Sau đó họ yêu cầu ông phải tuyên bố ly khai khỏi niềm tin của mình, và chối bỏ sự thực hữu của Chúa Giê-xu trước đám đông đang tụ tập tại đó. Hơn nữa, họ còn đe dọa ông rằng: "Nếu ông còn tiếp tục giử niềm tin vào Chúa Giê-xu, thì hôm nay chúng tôi sẽ đánh ông cho đến chết."
Mao tiên sinh vươn thẳng người lên và nhìn vào quần chúng đang chờ đợi, ông im lặng trong giây lát để cầu xin Đức Thánh Linh ban cho mình những lời cần thiết để ông nói cùng thính giả: "Thưa Đức Thánh Linh yêu dấu, con xin Ngài hãy nhận trách nhiệm về mọi sự bây giờ sẽ diễn ra." Đó là những lời cầu nguyện thầm của ông, sau đó ông tập trung vào đám đông trước mặt, ánh mắt ông sáng ngời và ông nói bằng một giọng dõng dạc vào micro: "Kính thưa bà con cô bác, bởi vì tôi tin Chúa Giê-xu, nên tôi đã phải chịu 15 năm trong trại cải tạo lao động ở H. Ở đó tôi đã thường xuyên bị đánh đập, và tôi đã kinh nhiệm qua những buổi đấu tố như thế này. Dù vậy thì đức tin tôi qua đó càng vững chắc hơn. Quý vị muốn biết vì sao không?. Chúa Giê-xu là Đấng tôi tin, Ngài là Đức Chúa Trời có thật và hằng sống. Ngài là Con Đức Chúa Trời, và Ngài đã dựng nên trời đất. Ngài được sinh ra như một con người vì cớ chúng ta, và vì tội lỗi chúng ta nên Ngài bị giết trên thập tự giá. Qua đó Ngài đã mở cho chúng ta một con đường đến với Thượng Đế, xuất phát từ tình yêu của Ngài đối với chúng ta. Bởi vì Thượng Đế muốn cứu vớt mọi người chúng ta. Quý vị hãy quên các thần tượng của mình đi, và hãy tin vào Chúa Giê-xu, thì Ngài sẽ ban cho quý vị sự sống đời đời."
Khi những kẻ kết án ông thấy vậy thì họ đâm bổ vào ông một cách điên cuồng như dã thú. Cùng một lúc 19 tên đấm đá ông liên hồi. Một số kẻ khác liên tục đánh vào mặt, vào đầu ông. Còn kẻ khác đánh trên thân thể ông. Những kẻ khác dùng giầy đạp lên thân và lên ngực ông. Bỗng nhiên mấy người chung quanh nghe tiếng Mao vang lên rõ ràng: "Chúa ơi, hãy tha tội cho họ. Chúa ơi, con xin giao linh hồn trong tay Ngài." Rồi ông từ từ ngã gục xuống trên khán đài.
Mặc dù bị chấn thương nặng, nhưng Mao không chết. Trong vài tuần sau ông được hồi phục. Quê cha của Mao vốn ở một làng nhỏ trên núi, là nơi hầu hết những bà con đang sinh sống. Khi họ hàng nghe tin ông sống không xa họ lắm, và chỗ ông ở thường xuyên bị công an chính quyền tấn công, thì họ xin cho ông được về ở cùng chỗ với quê cha ông. Dù được chấp thuận cho chuyển chỗ ở, Nhưng không phải vì vậy mà ông thoát khỏi sự bắt bớ.
Chỉ ít ngày sau khi chuyển về chỗ ở mới, ông đã bị bắt giam và giải đến chính quyền địa phương. Ông bị giam giữ và tra khảo trong nhiều ngày liền. Họ muốn biết kết quả của sự cải tạo ông về chính trị và tôn giáo đã đi đến đâu. Kết quả đã khiến cho cấp lảnh đạo không hài lòng. Một cuộc vận động quần chúng công khai được tổ chức ngay trong sân làng. Cả làng phải đến dự từ khi sáng sớm. Những cán bộ tường thuật về quá khứ phản cách mạng của Mao. Sau đó họ tuyên bố thời gian của cuộc đấu tố rằng: "Vào lúc 8 giờ sáng mai, sẽ có buổi họp đấu tố ở điểm D. Chúng tôi muốn tất cả dân làng phải có mặt."

Ở vùng này, đã có nhiều Hội Thánh Cơ-đốc lớn mạnh từ nhiều năm nay. Những Cơ-đốc nhân đã trải qua nhiều sự bắt bớ, dù vậy không làm lu mờ tình yêu nhiệt thành của họ đối với Chúa Giê-xu. Bây giờ khi họ nghe rằng con người của Đức Chúa Trời này đang đứng trước một cuộc đấu tố, thì họ lập tức bắt đầu cầu nguyện và kiêng ăn ráo riết cho anh. Họ quyết định sáng ngày mai sẽ có mặt ở buổi đấu tố, để ủng hộ ông bằng sự cầu nguyện và sự có mặt của họ. Vì thế, sáng sớm hôm sau, trước giờ khai mạc rất lâu, đã có một đám đông tụ tập quanh khán đài là nơi sẽ xảy ra màn kịch khi những công an đem phạm nhân đến.
Sau đó, những người tổ chức màn kịch đã đến. Họ giải theo ông.
Mao bị trói chặt, cùng với súng ống đã lên đạn sẵn sàng. Họ đem ông lên khán đài. Khi Mao nhìn lướt qua chung quanh, ông kinh ngạc nhận ra nhiều khuôn mặt trìu mến và quen thuộc đứng quanh mình. Những người chờ đợi chung quanh không phải là những người buộc tội và thanh trừng ông, mà đó là những anh chị em cùng đức tin. Vị mục sư ngồi ngay hàng ghế đầu tiên, ông gật đầu chào Mao, ánh mắt ông chan chứa sự an ủi, và thông cảm.
Mao cảm nhận được uy quyền và sự hiện diện của Đức Chúa Trời, khi anh nhìn vào ánh mắt của vị mục sư, dường như họ ngầm báo tin cho nhau. Không, chúng ta không lẻ loi và vô vọng đâu. Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, nếu có ai tấn công chúng ta thì sẽ không thành công, vì nó xảy ra ngoài ý muốn của Chúa. Nếu ai tấn công chúng ta thì rơi vào sự tấn công Chúa. Những vũ khí chống lại chúng ta sẽ vô hiệu quả. Chúng ta sẽ định tội mọi đầu lưỡi dấy lên kiện cáo chúng ta (Ê-sai 54). Mao nhướng thẳng người lên, ông cảm nhận được quyền năng và sự xức dầu của Đức Thánh Linh đến trên mình, và mạnh hơn tất cả những người có thể làm hại anh.
Một tên lính xô Mao lên phía trước, giơ cao tay phải hắn lên và hô to khẩu hiệu: "Đả đảo Mao là tên phản cách mạng. Chúng ta không dung chứa một sự mê tín dị đoan và tôn giáo nào. "Nhưng chỉ có vài giọng rời rạc trong đám đông cùng hô khẩu hiệu với hắn. Điều sau đó giống như những buổi đấu tố trước mà Mao phải trải qua. Trước hết một viên chỉ huy bắt đầu chửi rủa nhà thờ. Hắn kết tội Mao đội lốt tôn giáo phản cách mạng, và sau đó ra lệnh cho ông nhận tội và tuyên bố bỏ Chúa Giê-xu. Những Cơ-đốc nhân nhìn thấy kinh ngạc, vì một ánh hào quang của Đức Chúa Trời chiếu trên gương mặt của Mao. Ông từ từ bước lên micro và bắt đầu nói: "Tại sao các ông không lấy dao mà moi trái tim của tôi ra, thì các ông có thể thấy được thật cái gì đã chứa đựng trong nơi sâu thẳm nhất của lòng tôi." Sau lời nói đó, ông bắt đầu hát lên với giọng trong trẻo, loa phóng thanh phát ra xa ngoài sân làng, hầu như cả làng đều nghe thấy, những con cái Chúa trước khán đài nhận thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở trên sân bãi và nhiều người bắt đầu khóc, và sau đó tất cả đồng thanh hát như một ca đoàn vĩ đại. Họ cùng nhau hát :
"Tôi muốn trung thành với điều được giao cho tôi. Tôi muốn trung thành với Chúa yêu dấu của tôi. Hãy ban cho con sức mạnh để con trung thành với Ngài. Cho dù không còn ai nữa đi theo Ngài. Và con đường tôi đi qua những sự gian khổ, thì tôi vẫn đứng vững bên cạnh Chúa tôi. Chúa của tôi luôn luôn muốn thấy tôi trung tín.
Khi những người công an nhận định được tình hình, thì trước hết họ bối rối, và không biết nên xử trí ra sao. Họ không những đã nhìn thấy và nghe lời hát của những người mà đáng lẽ sẽ nguyền rủa và lên án tù nhân, mà còn cảm thấy bầu không khí của sự bình an, sự hiệp một và tình yêu. Đó là điều khiến họ không chịu được nổi. Những tên lính vũ trang trên khán đài chờ đợi cách vô vọng, xem sẽ có ai can thiệp vào. Thật là nhục nhã ! Mồ hôi tuôn đổ trên trán họ. Nếu rốt cuộc có sự gì đó xảy ra thì điều đó cũng như một sự giải cứu, tức là khi có một vài người có trách nhiệm gạt đám đông đi lên, đẩy Mao xuống khỏi khán đài, và dẫn ông đến văn phòng và trung tâm chính quyền địa phương. Nhưng con cái Chúa nhóm lại cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự can thiệp của Ngài. Họ nghĩ rằng sự việc chắc đã qua đi và ai nấy trở về nhà mình.

Nhưng phòng công an an ninh vẫn chưa xong kế hoạch của họ. Các cán bộ an ninh sôi sục sự giận dữ và căm thù. Dám cả gan làm mất mặt họ giữa thanh thiên bạch nhật. Mao đã khiến họ trở thành trò hề. Bọn họ chắc chắn sẽ không chịu ngồi yên vì chuyện này. Họ nghĩ rằng dù sao đi nữa thì rốt cuộc họ vẫn là những người cầm đằng chuôi. Vậy thì tên Cơ-đốc nhân này đừng hòng sống sót được. Vào buổi chiều cùng ngày hôm đó, Mao bị trói chặt bằng một sợi dây nylon mỏng tanh. Những tên công an đã dùng hết sức bình sinh mà siết sợi dây thật chặt, đến nỗi nó cứa đứt khắp người ông. Mao bủn rủn vì đau đớn, bây giờ sẽ diễn ra một cuộc diễn hành. Mao phải đội một cái mũ hề nhọn đầu, bị giải đi qua các đường phố, có các công an vũ trang vây chung quanh, Có nhiều kẻ hiếu kỳ tham gia vào đoàn người. Nhưng không có ai trong số họ là Cơ-đốc nhân, Những học sinh của trường phổ thông cơ sở và trung học đang trên đường về nhà, đều theo sau Mao cùng tung hô khẩu hiệu:
"Đả đảo mọi kẻ thù giai cấp. Hãy diệt trừ Mao, tên chống cộng. Tước quyền những phần tử phản động. Đảng cộng sản muôn năm."
Mao bước đi hiên ngang và đàng hoàng giữa đám đông hỗn loạn. Trong ý thức ông biết chắc mình không đơn độc, vì có Chúa đi cùng ông. Sau khi họ đã nhiều lần đi qua đi lại trong vùng, thì những viên chỉ huy hỏi ông: "Ông có tiếp tục tin Chúa Giê-xu hay không ?" Mao đã trả lời không hề lưỡng lự: "Tôi tin và tôi sẽ còn tin cho đến hết cuộc đời tôi." Ngay khi ông nói chưa dứt câu thì đã có kẻ dùng búa đập lên đầu ông. Máu chảy ra từ vết thương, chảy lên tóc và lên áo ông. Sau vài bước, bọn chúng lại hỏi ông: "Ông muốn tin đến bao giờ? "Ông trả lời sang sảng và dõng dạc: "Tôi tin và dù các ông có đánh tôi chết, tôi vẫn tin. Những tên lính lại đánh ông bằng búa, và các bướu to tiếp tục sưng lên trên đầu ông. Trong khi ông bước đi, bọn họ đánh ông không ngừng. Chẳng mấy chốc trên đầu ông đầy những thương tích và khối u.

Visaochungtatin.-17

Sau khi đoàn người bước đi như vậy chừng nửa cây số thì đầu ông sưng to, và máu khô đọng cứng lại. Bởi những trận đòn đến nỗi mắt ông hầu như không mở lên được, vì mặt đã sưng vù.
Cứ như thế đoàn người đi qua một quầy hàng. Trước cửa quầy hàng đó là một đống đá xanh chất cao lởm chởm. Các tên chỉ huy dùng dao nhọn chọc sau lưng bắt ông phải đi tới, trèo qua đống đá đó mà đi. Nhưng vì hai tay Mao bị trói chặt, nên ông bị mất thăng bằng và trượt ngã trên những hàng đá nhọn, không có gì chống đỡ, khiến ông bị gẫy vài cái xương sườn. Những kẻ hành hạ anh lại lôi anh đứng dậy, và bắt anh đi tiếp tục. Bây giờ khuôn mặt ông đã ước đẫm mồi hôi, trở nên trắng bạch, anh thở hổn hển và máu trào ra từ miệng. Ông phải đi tiếp như vậy dưới những trận đòn. Đoàn người đi qua một hố sí công cộng. Thật ra những người có trách nhiệm muốn ném ông xuống hố phân sâu hơn hai mét đó. Nhưng vì cớ đoàn người đi xem đã trở nên rất đông, nên họ không dám làm điều đó, thay vào đó họ ném mũ của Mao xuống hố phân, rồi họ dùng một gậy tre tẩm nó trong phân người và đội nó trên đầu Mao, đang mang đầy các thương tích. Phân người và nước tiểu chảy lên đầu tràn trên gương mặt và trên lưng ông, cho đến khi các áo sơ mi cũng bị ước sũng.
Trong khi tiếp tục giải ông đi như vậy. Một tên công an lấy hai cây tre gắp phân chó và tìm cách nhét vào miệng Mao. Bởi vì ông ngậm chặt miệng nên hắn đã bôi trét phân chó hôi thối lên trên mồm và môi của ông. Khi Mao mở miệng để thở lấy hơi, thì một ngụm máu tươi đã trào ra khỏi miệng ông. Không biết con người còn có khả năng tàn bạo đến đâu nữa.
Cuối cùng họ đem Mao đến một gốc cây cổ thụ và treo ông tít lên cao, ném đá vào ông, sỉ nhục ông, nguyền rủa ông, nhưng lúc ấy Mao đã bất tỉnh rồi. Khi trời gần tối, họ đem ông xuống khỏi cây, ném thân thể không còn động đậy gì nữa của ông bên vệ đường, và ai về nhà nấy.
Mao nằm đó bất động và trơ trọi. Những tia nắng cuối cùng trong ngày chiếu trên mặt ông. Khuôn mặt bị hành hạ đến nỗi không còn nhận dạng được nữa. Nhưng trên những đường nét của nó vẫn còn có thể thấy sự cương quyết không thỏa hiệp còn động lại.
Lúc trời đã tối, những tín dồ trong làng mới nghe tin, đã vội vã chạy đến tìm Mao. Họ đem ông vẫn còn bất tỉnh về nhà trong một gia đình trong Hội Thánh. Họ cẩn thận lau rửa những vết thương cho ông, và đặt ông trên chiếc giường êm nhất của họ. Có nhiều tín đồ đã đến và đứng khóc trong phòng. Họ cùng nhau cầu nguyện, xin Chúa cứu sống con người lão thành và bất khuất này.
Đến khoảng nửa đêm, Mao dần dần tỉnh lại. Tuy ông không mở mắt lên được, nhưng ông nghe thấy tiếng khóc và cầu nguyện vây quanh mình. Ông cố gắng nói một cách khó nhọc: "Anh chị em thân yêu, xin đừng khóc cho tôi. Nhưng hãy khóc vì sự chống nghịch của nhân dân ta. Hãy khóc cho đồng bào của ta còn vô tín. Khóc cho những người lãnh đạo của chúng ta còn vô thần." Những lời nói của ông làm cho các tín đồ xúc động sâu sắc, khiến họ càng cầu nguyện khẩn thiết hơn nữa.

Trong những tuần lễ kế tiếp, Mao được phòng công an để cho yên. Cộng với những lời cầu nguyện, và sự săn sóc ân cần của con cái Chúa, mà ông được bình phục trở lại. Còn 18 năm nữa đang chờ ông. Trong những năm sau đó, ông đi hầu việc Chúa không mệt mỏi. Ông đến thăm các Hội Thánh để khích lệ các con cái Chúa, và đem những người chưa biết Chúa đến với tình yêu của Ngài.
Cuộc đời của Mao tiên sinh không những đánh dấu bằng những biến cố đau thương, những chịu đựng gian khổ, nhưng trước hết còn được đánh dấu bằng sự kính sợ của ông đối với Đức Chúa Trời Hằng Sống, qua sự trung tín và niềm vui dạt dào bên trong. Kể từ thời gian ông ở trại lao động khổ sai ở miền bắc Trung Quốc, ông đã có thói quen thức dậy mổi sáng để cầu nguyện cho đất nước, cho đồng bào, và cho Hội Thánh mình. Ngay cả trong những năm ở quê nhà, khi phải chịu đựng nhiều bắt bớ, ông vẫn trung tín với thói quen này, cho đến lúc chết, người ta có thể thấy ông cầu nguyện trước khi mặt trời mọc. Sau giờ cầu thay, ông dành nhiều thời gian từ buổi sáng này qua buổi sáng khác để đọc Thánh Kinh dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu. Nhiều đêm ông không muốn đi nằm. Ông thường bỏ những buổi ăn để có thể đọc Thánh Kinh, vì ông đã dành nhiều thời gian cho việc học hỏi Lời Chúa, nên ông rất thông thạo và thuộc lòng rất nhiều đoạn Thánh Kinh dài. Dầu vậy, ông không bao giờ thỏa mãn với điều gì mình đã biết từ Thánh Kinh, ông còn lợi dụng cơ hội để học hỏi nơi các tín đồ khác bằng sự hạ mình.
Thỉnh thoảng nếu trong khi học Thánh Kinh, có một chương đoạn nào đặc biệt cảm động ông, Đức Thánh Linh giải thích Lời Ngài cho ông và làm cho lời đó trở nên sống động, thì ông mừng rỡ đến nỗi nhảy tung lên, và bắt giọng một bài thánh ca, và nhảy múa vòng quanh phòng.
Mặc dù ông không lấy vợ sau lần ly hôn, và chưa hề có con, và mặc dù đời sống ông trong những năm tháng ở trại lao động khổ sai không phải là nhẹ nhàng, và sau đó ông cũng hay đi công tác hầu việc Chúa khắp nơi trong nước như những người rao giảng Tin Lành, mặc dù nhiều lần bị đe dọa bắt giam, lại mọi sự bắt bớ trong gian nguy luôn rình rập ông, mặc dù vậy, cuộc đời ông vẫn được đánh dấu bằng niềm vui lớn.
Nếu ông là khách ở bất cứ đâu, thì những người hàng xóm ở đó có thể nghe thấy ông hát. Khi ông càng già, giọng ông càng dõng dạc hơn. Ông là con người có thể khóc cười bằng cả trái tim. Cùng là một người bà con cũng là tín đồ, và là bạn thân của ông. Cả hai có thể thức thâu đêm đến sáng. Sau đó họ kể cho nhau nghe những gì mình đã kinh nghiệm về Đức Chúa Trời, khích lệ lẫn nhau và cùng nhau đọc Thánh Kinh, cùng nhau hát ngợi khen Chúa. Bài hát mà họ ưa thích thường cùng nhau hát đi hát lại hằng tiếng đồng hồ. Có những lời như sau :
"Khi tôi đắm chìm trong biển đời tội lỗi, trong sóng cuồng khổ đau, mưa tuôn buồn bã. Những đêm đầy tiếng hú chó rừng, thì trái tim tôi đầy sợ hãi. Tôi tê dại vì nỗi kinh hoàng, đầy bụi gai khô, những rừng núi hoang vu, thung lũng ngàn trùng heo hút. Tôi mong mỏi trở về đàn. Tình Yêu Diệu Kỳ đã tìm và gặp tôi. Huyết báu Diệu Kỳ đã rửa sạch tôi. Ân Điển Diệu Kỳ đã đem tôi trở về đàn."
Những Chúa Nhật đối với Mao là những ngày hội, ông thường dùng những ngày này cho sự tương giao với Đức Chúa Trời, với Lời Ngài và với những tín đồ khác. Trong toàn bộ cuộc đời theo Chúa của ông, chỉ có 4 lần ông không đi thờ phượng Chúa. Tất nhiên ngoại trừ 15 năm ông ở trong trại tù khổ sai.
Trong vòng 18 năm cuối đời, cuộc sống của Mao tiên sinh trở nên bớt căng thẳng hơn, nên ông có thể dành nhiều thời gian và sức lực vào việc truyền bá Tin Lành. Trong tất cả mọi việc, ông được mọi người tín nhiệm. Ông thường đặt mình xuống dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh và dưới sự vâng phục của Hội Thánh. Nếu Chúa bảo ông đi đến một vùng nào đó thì ông luôn luôn lên đường ngay, cho dù đó là những vùng đất xa xôi hiểm trở. Nhiều năm liền ông đả đi đến những địa phương thuộc rừng núi V là nơi không chỉ khó khăn đi lại, mà còn nguy hiểm nữa. Nhất là vào mùa đông, những con đường nhỏ cheo leo trên dốc núi bị phủ băng tuyết. Nhưng ông không quản ngại gian khổ, lúc bão tuyết, ông cũng lên đường thăm viếng các con cái Chúa, và giảng cho họ về Lời Chúa, nên Tin Lành lan rộng trên miền rừng núi V, và có nhiều Hội Thánh mới mọc lên khắp nơi.
Ông rất kỷ luật và cẩn thận về những điều ông nói và làm. Ông ghét mọi loại tội lỗi, và ông là một tấm gương trong mọi việc cho các tín đồ. Nếp sống của ông rất bình dị, ông không bao giờ thích sự nhàn rỗi hoặc sự tán gẫu. Ông ăn uống rất đơn giản, khoai lang và rau quả. Ông ăn mặc không cầu kỳ, và sống trong một túp nhà nhỏ đơn sơ. Dù vậy, ông vẩn cho cách sống của mình như vậy là lãng phí khi so với sự đói khổ của bao người dân Trung Quốc.
Ông mang một tình yêu sâu đậm đối với con cái Chúa trong Hội Thánh. Ông quan tâm đến các gia đình họ, sự lớn lên về thuộc linh của họ trong đời sống hàng ngày. Ông nhắc nhở họ bằng tình yêu thương. Ông săn sóc họ và thấy mình có trách nhiệm đối với họ.
Trước khi Mao tiên sinh qua đời, ông nằm liệt giường 80 ngày. Hằng ngày mọi con cái Chúa từ mọi nơi đến thăm ông. Mặc dù ông không có con theo xác thịt, nhưng ông là người cha thuộc linh của rất nhiều nguời. Những đứa con đó đã khiến cho đời sống ông đầy sự vui mừng. Ông về với Chúa vào ngày 17 tháng 10 năm 1989. Một cuộc đời hạnh phúc trọn vẹn và rất thành công. Hơn ngàn người đã dự đám an táng của ông, tất cả họ đều yêu mến ông, và muốn noi gương ông. Khi họ thả chiếc quan tài xuông huyệt, thì tất cả cùng dồng thanh hát bài thánh ca:
"Chúng ta vui mừng đón Chúa Giê-xu đến. Cuộc hội ngộ long trọng thay! Tiếng hát những người yêu mến con người của Đức Chúa Trời này vang vọng toàn thung lũng. Khi các môn đệ của Chúa Giê-xu rời khỏi đất thì họ về nhà. Bạn bè họ thương khóc, còn họ sung sướng nhất. Chúa Giê-xu gánh tội lỗi họ. Ngài đổ huyết mình. Và Ngài sẽ trở lại. Ôi, sự hội ngộ thật long trọng thay. Chúng ta chỉ chia ly giờ đây. Không phải là mãi mãi. Rồi chúng ta sẽ ở cùng nhau.”

KẾT LUẬN
Câu chuyện cuộc đời theo Chúa của Mao tiên sinh đến đây là hết. Thật là một câu chuyện cảm động và đầy sự khích lệ thuộc linh. Đây là tấm gương đáng cho những con cái Chúa phải noi gương theo. Trên bước đường theo Chúa, chúng ta có thể quả quyết là trong vòng chúng ta không có ai có sự bắt bớ nào có thể so sánh với sự bắt bớ tàn bạo như của Mao tiên sinh.Vậy hãy cứ vững lòng chịu khổ mà theo Chúa cho đến cuối cùng, bạn nhé. Xin hẹn tái ngộ với các bạn trong câu chuyện anh hùng đức tin Trung Quốc kế tiếp.

HẾT



 

"Cây Bách Của Rừng Liban" ( Hoa Huệ Giữa Chông Gai ) - Tác giả: Danyun ( vpcgg.org )

 

oneway1