Bác sĩ Lu-ca: "Một Thầy Thuốc Rất Yêu Dấu"

 

luca1

Hai sách của Lu-ca viết không những có một nét đặc biệt chính xác khoa học về các sự kiện, mà ông còn muốn biện minh cho Lời Chúa và đưa ra bằng chứng với chân lý rõ ràng. Trên thực tế, các nhà giải kinh đều đồng ý rằng sách Tin Lành Lu-ca và đặc biệt là sách Công vụ của ông viết, có một mục đích chính là biện giải cho chân lý của Lời Chúa. Lý do chính các nhà giải kinh đồng ý ở điểm này là vì Lu-ca cứ nhấn mạnh và lập đi lập lại về tánh cách chánh đáng của Cơ-đốc giáo đối với nhà cầm quyền của đế quốc La-mã thời bấy giờ, nên chú ý rằng tất cả vấn đề chống đối hay bắt bớ lúc đầu xẩy ra cho người tin Chúa là do sự xúi giục của thầy thông giáo hay nói rõ hơn là giới lãnh đạo Do-thái giáo. Cho nên có việc tường trình rõ ràng trong sách Tin Lành Lu-ca về việc toan tính tha bỗng Chúa Jêsus của Phi-lát, và việc bào chửa tha cho Phao-lô của Felix, Festus, Agrippa, etc...trong sách Công vụ.   

Tuy nhiên, chủ đích của Lu-ca để biện minh cho chân lý của Tin Lành còn đi xa hơn nữa. Một trong những việc đầu tiên của Lu-ca là mô tả sự hiện thân của Đấng Christ và sự Giáng Sinh làm người một cách chi tiết trong sách Lu-ca hơn bất cứ một sách nào khác trong Tân và Cựu ước. Sau đó ông bắt đầu sách Công vụ với sự ghi chú rằng "Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống" sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại (Công vụ 1:3). Tiếp theo ông mô tả những diễn biến kỳ lạ xẩy ra trong ngày lễ Ngũ Tuần, và nhiều phép lạ do các môn đồ Chúa làm khi họ bắt đầu sứ mạng truyền giảng Lời Chúa, và tiếp tục nhấn mạnh bằng chứng hiễn nhiên về việc Chúa sống lại. Lu-ca cũng nêu lên những bằng chứng về sự báo trước về Đấng Mê-si-a được ứng nghiệm trong sách Công vụ. Sự hiện diện và quyền năng của Đức Thánh Linh cũng là bằng chứng qua sự tường trình của Lu-ca trong suốt sách Công vụ. Mặc dầu sách Công vụ chấm dứt với việc Phao-lô bị giam cầm tại gia ở La-mã, ông vẫn được tự do giảng dạy Lời Chúa cho ai muốn nghe, nhất là cho người ngoại. Sau cùng, sách Công vụ đi đến đoạn kết với lời chứng, mặc dầu ông được mệnh danh là tù nhân La-mã, "Phao-lô ở trọn hai năm tại một nhà trọ đã thuê. Người tiếp rước mọi người đến thăm mình, giảng về nước Ðức Chúa Trời, và dạy dỗ về Ðức Chúa Jêsus Christ cách tự do trọn vẹn, chẳng ai ngăn cấm người hết." (Công vụ 28: 30-31)

Lu-ca và Sự Sáng Tạo

Cũng nên nhắc lại rằng qua cách trình bày ý tứ của Lu-ca chúng ta có thể nhận biết Lu-ca tin vào Sự Sáng Tạo hay người thuộc phe sáng tạo, và ông không ngại tường thuật rằng Phao-lô nêu lên công khai Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo. Khi các thầy thông giáo cả và trưởng lão ra lệnh cho các môn đồ "đừng có nói đá động gì hết hay giảng dạy đến danh Jêsus" (Công Vụ 4:18) họ chỉ đơn giản một lòng cầu nguyện với sự khởi đầu như sau: "Mọi người nghe đoạn, thì một lòng cất tiếng lên cầu Ðức Chúa Trời rằng: Lạy Chúa, là Ðấng dựng nên trời, đất, biển, cùng muôn vật trong đó," (Công vụ 4:24).  Sau đó họ cầu nguyện cùng Chúa, "Nầy, xin Chúa xem xét sự họ ngăm dọa, và ban cho các đầy tớ Ngài rao giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ" (Công vụ 4:29) và kết quả là người ta tin Chúa Jêsus đông lắm.

Sau khi Phao-lô trở lại đạo và bắt đầu những chuyến du hành truyền giáo. Mới đầu ông đi từ thành phố này tới thành phố nọ, giảng dạy trước hết cho người Do-thái ở đó, chứng minh bằng Lời Chúa rằng Đức Chúa Jêsus chính là Đấng Mê-si-a, chính Ngài đã chết để mua chuộc tội lỗi cho họ và đã được sống lại đắc thắng khải hoàn.

Khi ông giảng cho người ngoại đạo, họ không biết tí gì về lời Chúa hay về Đấng Mê-si-a sẽ đến, vì thế Lu-ca diễn tả phương pháp gạ gẫm của Phao-lô bằng cách giảng dạy trước nhất về Sự Sáng Tạo, rồi dẫn tới Sự Phục Sinh, sau đó mới nói đến Lời Chúa. Thi dụ như ở thành phố Lystra, ông thúc đẩy những người thờ tà thần hay dẹp bỏ thần tượng của mình đi, "chúng ta giảng Tin Lành cho các ngươi, hầu cho xây bỏ các thần hư không kia, mà trở về cùng Ðức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật trong đó." (Công vụ 14:15).

Dĩ nhiên sau cùng ông cũng đến Athens, kinh đô của Hy-lạp, trung tâm của nền văn hóa thờ tà thần, và đương đầu tư tưởng với những triết gia về phái Epicuriens và phái Stociens, cả hai hệ thống tư tưởng này cùng đề cao tư tưởng tiến hóa. Lu-ca tường trình trong Công vụ 17 về sự biện luận của Phao-lô như sau: "Ðức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của trời đất, chẳng ngự tại đền thờ bởi tay người ta dựng nên đâu. Ngài cũng chẳng dùng tay người ta hầu việc Ngài dường như có cần đến sự gì, vì Ngài là Ðấng ban sự sống, hơi sống, muôn vật cho mọi loài. Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người, và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở, hầu cho tìm kiếm Ðức Chúa Trời, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta...vì Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi Người Ngài đã lập, và Ðức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ." (Công vụ 17:24-27, 31) 

Lu-ca Biện Giải về Sự Toàn Thiện Toàn Mỹ

Như đã phân tách ở phần trên, bác sĩ Lu-ca viết sách Tin Lành thứ ba của Tân Ước với hai mục đích chánh.  Trước tiên, mục đích của ông là giải thích rõ ràng và có giá trị lịch sử. Trong số bốn sách Tin Lành, Lu-ca là quyển sách diễn tả đầy đủ chi tiết lịch sử rõ ràng nhất. Nó có nhiều dẫn chứng về tổ chức, phong tục, địa lý, và lịch sử của thời kỳ Chúa Jêsus hơn bất cứ sách Tin Lành nào khác. Lý do thứ hai của bác sĩ Lu-ca là mục đích thuộc linh. Ông trình bày Chúa Jêsus là Đấng Toàn Thiện Toàn Mỹ, có Thần tánh Nhân tánh, và là Cứu Chúa của nhân loại. Chúa Jêsus chính là Đức Chúa Trời hiện thân trong thể chất Con Người.

Tuy nhiên nên chú ý là Giăng cũng cùng có mục đích tương tự như vậy, nhưng Giăng không có đặt vấn đề một cách khoa học như Lu-ca đã làm. Bác sĩ Lu-ca trình bầy rằng ông cứu xét kỷ Jêsus của Na-za-rét, và ông nhận định rằng Chúa Jêsus chính là Đức Chúa Trời. Ông có cùng kết luận như Giăng, nhưng thủ tục và phương pháp đi đến nhận định sau cùng của bác sĩ Lu-ca hoàn toàn khác hẳn.

Chúng ta nên nhớ bác sĩ Lu-ca là người có gốc Hy-lạp nên cách lập luận của ông theo đầu óc lý luận của người Hy-lạp và cho một cộng đồng có tầm kiến thức sâu rộng. Nói tóm lại ông viết sách Tin Lành của ông và sách Công vụ cho ngưởi Hy-lạp của ông hiểu rõ về Đức Chúa Jêsus Christ là ai. Việc nhận định của bác sĩ Lu-ca về toàn thiện toàn mỹ rất quan trọng theo quan điểm của người Hy-lạp. Vào thế kỷ thứ Tư trước Thiên Chúa, người Hy-lạp biểu hiện trên chân trời lịch sử những thiên tài sáng chói nhất nỗi bậc nhất mà thế giới chưa từng thấy. Thời kỳ được gọi là Periclean Age hay thời kỳ sáng chói nhất về văn minh, mỹ thuật và vật chất của nền văn minh Hy-lạp.

Người Hy-lạp toan tính tạo nên một dòng giống hoàn hão nhất và tiến đến việc tạo dựng một con người hoàn hão nhất. Việc toan tính tạo dựng một con người hoàn hão này được tìm thấy về thể chất qua việc tạo dựng tượng Phidias, cũng như trong lãnh vực tâm trí. Họ cố tạo nên một con người không những chỉ đẹp về thể chất mà còn hoàn hão về trí tuệ. Những tác phẩm văn chương và triết lý của Plato, Aristotle, Homer, Aeschylus, Sophocles, Euripides, Aristophanes, và Thucydides đều hướng về hình ảnh của một con người hoàn hão và họ có ý định tạo dựng được con người vạn năng. Người Hy-lạp làm những vị thần của họ theo hình ảnh của con người. Trên thực tế những vị thần của họ chỉ là sự phóng đại về con người. Những tượng vĩ đại của những vị thần như Apollo thần của sự tiên đoán, âm nhạc và cũng là thần của mặt trời, Venus nữ thần của tình yêu, Athena nữ thần của sự khôn ngoan, hay là Diana không có hình thù quái gỡ như những vị thần ở Đông Phương. Họ tôn sùng con người với những bản tánh thanh lịch và những cảm xúc nồng nàn. Những vị thần khác của họ như Pan thần của chiên, xúc vật, thú vật rừng rú, Cupid, Bacchus hay thần của rượu chè, và sự vui chơi, và Aphrodite, thần của tình yêu. Không phải tất cả thần của Hy-lạp đều có vẻ nhu mì nhã nhặn; một số vị thần của họ có dáng vẻ dữ tợn hung ác sẵn sàng nỗi trận lôi đình vì thần của họ phản ảnh về hình ảnh con người.

Trong thời kỳ sáng chói này của Hy-lạp, Ả-lịch-sơn đại đế (Alexander the Great) trị vị và đem ảnh hưởng văn hoá, ngôn ngữ, và triết lý Hy-lạp đến những vùng đất mà ông chinh phục. Tiếng Hy-lạp trở thành ngôn ngữ thông dụng. Ở Alexandria xứ Ai-cập, Kinh Thánh Cựu Ước được dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng Hy-lạp và có tên cho bộ này là Septuagint, và là một trong những bản dịch từ nguyên bản hoàn hão nhất. Kinh Thánh Tân Ước cũng được viết bằng tiếng Hy-lạp. Tiếng Hy-lạp là phương tiện truyền bá ý tưởng và truyền đạt Lời Chúa cho cả nhân loại. Tiếng Hy-lạp là một ngôn ngữ hữu hiệu để diễn đạt sự kiện và truyền thông tư tưởng.

Tuy nhiên, nền văn hoá, ngôn ngữ, và triết lý Hy-lạp đạt đến chỗ cao điểm nhất, người Hy-lạp vẫn không tạo được một con người hoàn hão. Người Hy-lạp không tạo dựng được Utopia, hay một cộng đồng, một xã hội lý tưởng. Họ không bao giờ đến được cánh đồng Elysian Fields, hay nơi an nghĩ của tâm hồn của người hùng và người đạo đức; họ hoàn toàn bị mất hút trong lãnh vực tâm linh. Thế gian này trở thành nơi họ trụ trì, sống, làm việc, vui chơi và đi về mồ mã. Họ càng đắm chìm vào thế giới của họ bao nhiêu, thế giới này càng mờ ão cho họ bấy nhiêu.

luca2

Cho nên, không phải ngạc nhiên khi họ xây dựng nên một cái tượng cho VỊ THẦN KHÔNG BIẾT ĐƯỢC THE UNKNOWN GOD', và khi Phao-lô giảng Lời Chúa cho họ, họ chế nhạo ông vì ông cố gắng giúp cho họ nhận thấy chân lý. Cho nên Phao-lô phải tuyên bố rằng Lời Chúa là ngu xuẩn cho người Hy-lạp. Ông chỉ viết lên theo tâm tư lập luận của người Hy-lạp. Ông nói với họ rằng trong quá khứ họ là người ‘ngoại', không có chút hy vọng và không có Đức Chúa Trời trong thế giới của họ. Đó là hình ảnh của người Hy-lạp. Nhưng Phao-lô không vì thế mà không báo cho họ biết "khi kỳ hạn đã được trọn, Ðức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp, và Con Ngài đã chịu chết để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài." (Ga-la-ti 4:4) (Chữ gạch dưới, thêm vào) Phao-lô đã đi trên con đường dẫn đến La-mã với ngôn ngữ thông dụng nhất, giảng dạy toàn bộ Lời Chúa về một người hoàn hão nhất, chịu chết vì cớ mua chuộc tội lỗi cho nhân loại. Tín ngưỡng của Do-thái chỉ sản xuất ra thầy thông giáo, quyền lực của La-mã chỉ sanh ra loại người như Sê-sa (Ceasar), và triết lý của Hy-lạp chỉ sanh ra một người chiến lược toàn cầu như Ả-lịch-sơn Đại Đế (Alexander the Great), nhưng ông ta cũng chỉ có tâm hồn như trẻ con.

Trong nhận thức đó, bác sĩ Lu-ca viết cho tâm tư của người Hy-lạp. Ông diễn đạt Đức Chúa Jêsus chính là Con Người toàn thiện toàn mỹ mà họ có thể tìm đến, tiếp nhận, và có thể có tâm tình giống như Ngài. Ngài chính là Con Người vạn năng mà họ đang tìm kiếm. 

Trích từ TNPA ( 03/2014 )


Nhân Vật Kinh Thánh-vpcgg.org