200px-Jobe_martin

  Ông, Bà. Jobe Martin-Jenna Dee Martin

 

THUYẾT TIẾN HÓA
 

Tác giả: Dr. Jobe Martin

 

Lời Giới Thiệu

 

GIỚI THIỆU

thuyettienhoa
Q
uyển sách này là sự cô đọng và đơn giản hóa của hơn 20 năm nghiên cứu đã đưa tôi từ chỗ tin quyết vào thuyết tiến hóa do Darwin đề ra sang chỗ đặt trọn niềm tin của mình vào sự sáng tạo đặc biệt trong sáu ngày của Đức Chúa Trời như được ghi lại trong Kinh Thánh.

Tôi tin rằng những phần thảo luận đơn giản quanh các vấn đề chính về sự đối lập giữa sáng tạo và tiến hóa là cần thiết cho quý độc giả là những người ít hay chưa được đào tạo nhiều về khoa học. Vì thế tôi đã cố gắng để đi thẳng vào vấn đề một cách hết sức đơn giản- và biết rằng những ai đã được học về các lĩnh vực chuyên môn của khoa học có thể nói rằng đây là một quyển sách quá ư đơn giản.

Quyển sách đụng chạm đến “quan điểm tiến hóa” của một người tin theo sự sáng tạo (tôi) nhưng chủ yếu nhấn mạnh những tương phản cố hữu của thuyết tiến hóa và Kinh Thánh. Quyển sách này là sự biên dịch các tư tưởng và những tác phẩm mà Đức Chúa Trời đã dùng để thay đổi hệ thống niềm tin của tôi.

Tôi tin rằng Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước là lời hằng sống và linh nghiệm của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh được trích dẫn trong sách là từ Bản dịch cũ. Kinh Thánh dùng những hình ảnh tượng trưng, nhưng đó là những bằng chứng khi được sử dụng đúng chỗ.

Khi dùng khái niệm “tiến hóa” tôi muốn ám chỉ ý tưởng cho rằng sau khi trái đất đã hình thành, phải tốn thời gian hàng triệu năm để tự tạo nên các phân tử sống, và rồi nhiều triệu năm nữa của các quá trình tiến hóa và quá trình chọn lọc tự nhiên để cho ra con người. Tôi đề cập đến tiến hóa như là giả thuyết về sự tiến hóa từ phân tử đến con người.

Với những bạn đọc, xin hãy đọc hết sức cẩn thận, đừng bỏ sót ý nào, và nếu cần thì hãy đọc đi đọc lại nhiều lần để nắm được ý. Một số người trong chúng ta phải đọc đi đọc lại mới có thể hiểu được một khái niệm.

Cuối cùng, khi nói về các nguồn gốc (Tôi từ đâu tới?), chúng ta đang đối diện với một hệ thống niềm tin. Đó có thể là niềm tin nơi Đức Chúa Trời Hằng Sống đời đời, hay niềm tin nơi vật chất và năng lượng vĩnh cửu. Cuốn sách này cố gắng giúp bạn đọc phân biệt mình đang tin nơi điều gì về những khởi đầu của chúng ta. Có phải từ chỗ không có gì, cộng với sự ngẫu nhiên, cộng với thời gian, cộng với hàng tỉ năm là đúng? Hay đã có một Đấng Tạo Hóa quyền năng sáng tạo nên mọi thứ trong sáu ngày, mỗi ngày có 24 giờ?

Tôi khuyến khích các bậc cha mẹ và những thanh niên trẻ nên tạo cho mình một thư viện riêng gồm các sách về sự sáng tạo. Những sách về sự sáng tạo hữu ích cho chúng ta đã có đề cập đến trong những trang sau đây. Nhiều học sinh trung học và đại học đã viết những bài luận về quan điểm sáng tạo và các giáo sư có thể chấp nhận như là những tài liệu sáng chói ngay cả khi họ không đồng quan điểm với anh/ chị ta.

Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả các tác giả khác đã cho phép tôi sử dụng những trích dẫn trong các trang sách quý báu của họ, những người đã ảnh hưởng đến tôi và đã phải chịu nhiều khó nhọc vì sự tận hiến của mình cho sự vinh hiển của Đấng Christ qua các tác phẩm của mình. Năm 1971, cuốn sách đầu tiên tôi đọc đã ảnh hưởng đến tôi rất lớn, đó là quyển: Trận Đại Hồng Thủy Trong Sách Sáng-thế Ký (The Genesis Flood) của tiến sĩ Henry Morris và tiến sĩ John Whitcomb. Quyển thứ hai của tiến sĩ Bolton Davidheizer, với tiêu đề: Tiến Hóa và Niềm Tin Cơ Đốc (Evolution and the Christian Faith). Hai cuốn sách đó đã đóng một vai trò quan trọng trong sự “tiến hóa” của tôi ra khỏi thuyết tiến hóa.

Tôi biết rằng nếu không có Thánh Linh Đức Chúa Trời vận hành trong lòng người để thuyết phục họ nhìn nhận lẽ thật, những cố gắng của con người để bào chữa và thay đổi tâm trí con người là điều vô ích. Tôi cũng tin rằng “trận chiến này thuộc về Đức Giê-hô-va” (IISử ký 20:15) và bằng cách nào đó, Ngài sai thiên thần của Ngài ra đi chiến đấu trong các trận chiến- vì sự vinh hiển đời đời của Ngài. Tôi khiêm cung hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, là Đấng Tạo Hóa, là Đức Chúa Jêsus Christ, và tôi tin Ngài, tôi dùng Lời Ngài để trưng dẫn khắp trong quyển sách này, để chính lời đó sẽ nói với lòng của bạn. Ngài là Đấng thành tín (IITi-mô-thê 2:13)Lời Ngài là thật (Giăng 17:17), hằng sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi (Hê-bơ-rơ 4:12). Chân lý của Ngài sẽ chiến thắng- đời đời, mãi mãi!


Tiến sĩ Jobe Martin

 

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

cuối mỗi chương có một “Tạo Vật Kỳ Diệu Của Thượng Đế,” rất thú vị, nó cho chúng ta thấy sự độc nhất vô nhị của một số tạo vật trong vô số tạo vật kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Niềm tin tiến hóa đặt trên giả thuyết cho rằng các loài thực vật và động vật không tiến hóa thêm những cái gì mới cho đến khi nó thấy cần phải tiến hóa. Tiến hóa hoàn toàn không thể giải thích nguồn gốc của những tạo vật đặc biệt này. Chẳng có cách nào khác hơn cho sự tồn tại của chúng ngoài một sự sáng tạo đặc biệt. Chúng không “chết trong quá trình” cố gắng tiến hóa thêm những chức năng và bộ phận cần thiết để duy trì sự sống. Những con người học thức cao đã dành cả đời mình để cố gắng chứng minh những sinh vật đã tiến hóa. Công việc đó mãi mãi sẽ không thành công!

LỜI NHẮC NHỞ

Nếu bạn dành thì giờ để đọc quyển sách này, mà không có thì giờ để đọc Kinh Thánh, thà bạn đừng đọc sách này là hơn.

 

tiếp theo bấm trang 1 ở trên...

P1

 

SỰ TIẾN HÓA CỦA MỘT NGƯỜI THEO THUYẾT SÁNG TẠO

Visaochungtatin.-16

Thất vọng? Chữ này không thích hợp để diễn tả cảm nghĩ của tôi. Cái nào đúng? Sự tiến hóa kéo dài hàng tỉ năm hay là sự sáng tạo trong sáu ngày, mỗi ngày 24 giờ? Hai học trò của tôi ở trường đại học nha khoa Bangkok đã thách thức tôi tìm hiểu về việc có phải Chúa trong Thánh Kinh đã tạo ra mọi vật trong sáu ngày, mỗi ngày 24 giờ như đã được mô tả trong Sáng-thế ký 1. Phản ứng đầu tiên của tôi là: “Chỉ có kẻ dốt nát mới tin những huyền thoại trong quyển Sáng-thế ký.”

Tôi là một người theo thuyết tiến hóa. Những năm học sinh vật ở đại học Bucknell và học nha khoa ở đại học Pittsburgh đã thuyết phục tôi là chúng ta đang có mặt ở đây vì những quá trình tiến hóa có thể giải thích được theo luận lý và phương pháp khoa học. Đó là năm 1971 sau Chúa! Chúng tôi đã đang sống những ngày mà khoa học cao siêu và tân kỳ đã “chứng minh” thuyết tiến hóa là đúng. Thế nhưng hai sinh viên này còn trẻ và rất thông minh. Họ có văn bằng cao về khoa học. Chắc chắn phải có một cách đơn giản chứng minh cho họ thấy là quan niệm sáu ngày sáng tạo của họ là sai. Một trong những câu hỏi họ đặt ra cho tôi là: “Tiến sĩ Martin, có bao giờ tiến sĩ nghe đến ý kiến cho rằng Chúa đã tạo ra mọi sự vật với vẻ ngoài đã trưởng thành không?” Trên con đường tìm về cội nguồn của tôi, lúc đó tôi thật chưa biết điều này, nhưng câu hỏi đã làm nảy sinh trong tôi ý muốn học hỏi thêm. Thế là sự tuyệt vọng bắt đầu.

HỒI TƯỞNG

Mầm mống tuyệt vọng được gieo vào tháng 9/1966. Tôi đang theo một khóa huấn luyện y khoa căn bản của USAF tại Wichita Falls, Texas. Đó là thời cao điểm của chiến tranh Việt Nam và tôi đã nhận được lệnh phải trình diện tại căn cứ không quân Andrews, Washington D.C. sau khóa học. Tôi sẽ là một trong 5 nha sĩ chăm sóc phi hành đoàn của phi đoàn phục vụ tổng thống Johnson (phi đoàn 89).

Cái mầm là một câu cầu nguyện ngắn. Trong lúc tôi đang ngồi trong câu lạc bộ sĩ quan đêm tháng 9 đó, tôi quyết định làm sáng tỏ mọi việc với Chúa của Thánh Kinh (nếu Ngài hiện hữu thật sự). Nếu Ngài có thể chia hai Biển Đỏ, hóa nước thành rượu, khiến người chết sống lại, thì Ngài có thể đáp ứng một lời cầu nguyện của tôi: “Kính lạy Chúa, nếu Chúa có trên đó, xin Ngài lựa một trong hai điều sau đây. Hoặc Ngài cho tôi gặp người con gái tôi sẽ cưới làm vợ, hoặc Ngài sẽ thấy một sĩ quan không quân táo bạo chưa từng có.” Tôi nghĩ ngay lúc đó: “Ha! Không ai nghe lời cầu nguyện, mình sẽ thực hiện điều đó.”

Trừ phi Chúa đã nghe lời cầu nguyện. Tôi đã gặp người vợ tương lai trong ngày đó! Chúng tôi hẹn đi chơi với nhau hôm sau và tôi ngỏ ý với Jenna Dee là tôi sẽ cưới nàng. Tôi biết lòng tôi. Chúa của Thánh Kinh đã đáp ứng lời cầu nguyện ngay hôm tôi thốt ra với Ngài.

Vừa khi tôi đến Washington D.C., tôi quyết định đến nhà thờ để được biết nhiều hơn về Chúa. Khi rời nhà thờ ngày Chúa Nhật đầu tiên, vị mục sư bắt tay tôi và hỏi xem có điều gì ông có thể làm để giúp tôi về mặt tâm linh, vì khi đó tôi chỉ là con số không to tướng. Mục sư Charlie Warford bảo tôi mỗi sáng thứ hai thức dậy vào lúc 6 giờ để cùng đọc Kinh Thánh với ông. Trước kia tôi thường cãi vã với người khác về Kinh Thánh, nhưng tôi chưa từng bao giờ đọc Kinh Thánh. Thế là chúng tôi đọc Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca; và khi chúng tôi đọc Giăng 3:16, Chúa gợi sự chú ý của tôi. Nguyên văn câu này là: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” Chính câu đó đã làm tôi chú ý. Tôi cũng là một phần tử của thế gian, có một cam kết với thế gian, và tôi biết điều đó. Câu đó đã cho lòng tôi biết là Chúa yêu thương tôi! Thế là tôi quỳ xuống cùng với mục sư Warford và dâng cuộc đời tôi cho Đấng Christ. Hột giống đã gieo và bắt đầu nảy mầm.

Ở vào thời điểm tôi có niềm tin rằng Đức Chúa Jêsus chính là Cứu Chúa, tội lỗi tôi được thứ tha và tôi được nhận lãnh sự sống đời đời. Nhưng có một việc khác xảy ra mà sau này tôi mới biết. Tôi đã trải qua hành trình từ “tiến hóa hoài nghi” sang “tiến hóa hữu thần.” Như vậy có nghĩa là bây giờ tôi tin Chúa và Ngài đã dùng sự tiến hóa qua hàng tỉ năm để tạo vũ trụ và mọi vật trong đó. Một cách thành khẩn, tôi tin tiến hóa là giải thích khoa học chính xác nhất về sự hiện diện của chúng ta ở thế gian. Đó là Vụ Nổ Lớn (Big Bang), cộng với thời gian, cộng với sự ngẫu nhiên. Nói một cách khác thì “cái không có gì cộng với không ai hết tạo ra mọi sự.”

MỌI NGƯỜI TIN BỞI ĐỨC TIN

Các giáo sư dạy khoa học của tôi ở đại học không có nói cho tôi biết là tôi cần đặt vài giả định quan trọng khi tin vào thuyết Vụ Nổ Lớn. Theo thuyết này, người ta tin rằng vũ trụ và những gì trong đó là kết quả của vật chất, khối vật chất đặc đến nỗi nhìn không thấy được và đã thình lình nổ một cách dữ dội mà các nhà khoa học tiến hóa gọi là Vụ Nổ Lớn. Họ cho rằng tiếng nổ này đã xảy ra khoảng 8-20 tỉ năm trước đây. Nếu chấp nhận thuyết này, người ta phải giả định là vật chất và năng lượng hiện diện miên viễn (tồn tại vĩnh cửu). Thuyết Vụ Nổ Lớn chỉ cố giải thích sự sắp xếp vật chất và năng lượng chớ không cắt nghĩa được nguồn gốc của nó. Vật chất phải hiện diện miên viễn trước khi có Vụ Nổ Lớn bằng không thì chẳng có gì để mà “NỔ!” Từ đây chúng ta khám phá ra là mọi người trên quả đất tin có cái gì đó vĩnh cửu. Nó là niềm tin nơi vật chất và năng lượng vĩnh cửu hoặc niềm tin nơi Thượng Đế vĩnh cửu.

Tại sao niềm tin đó đến bởi đức tin? Bởi vì điều đó ngoài tầm khoa học thực nghiệm. Không có thử nghiệm nào tìm ra ai hoặc cái gì đó đã có trước khi vũ trụ bắt đầu. Vì thế, khi nói đến nguồn gốc, không có cách nào khảo sát hoặc kiểm chứng bằng thử nghiệm khoa học để đánh giá thuyết sáng tạo hoặc thuyết tiến hóa. Do đó, cả hai thuyết về nguồn gốc không còn thuộc lĩnh vực khoa học nữa, mà trở thành vấn đề đức tin.

Chúa, với quyền năng vô biên, đã thiết kế các tạo vật của Ngài, bất luận bạn tin vào quan điểm về nguồn gốc nào đi nữa, bạn vẫn phải đối diện với Ngài. Nếu vật chất và năng lượng miên viễn thì vào lúc xảy ra Vụ Nổ Lớn, những thứ này đang ở vào thế cân bằng. Như vậy có nghĩa là mọi vật bằng nhau và không có phản ứng. Đó là tình trạng của chiếc xe hơi. Chiếc xe nằm yên, trung hòa và không làm gì cho đến khi có ai đó mở máy. Mở máy làm cho xăng được đốt khiến cho có sức mạnh đẩy chiếc xe chạy.

Khoa học dạy chúng ta là vật chất ở đâu đó một thời gian lâu (quá khứ vĩnh cửu), nó đã không làm gì hết và chỉ nằm yên đó trung hòa như trường hợp chiếc xe hơi. Đó là một phần của luật thứ nhì về nhiệt động lực học và được gọi là Zeroeth Entropy. Trước Vụ Nổ Lớn, mọi vật chất và năng lượng nếu vĩnh cửu tất phải đang trung hòa, giống như chiếc xe hơi đã tắt máy và đang đậu trên mặt đường bằng phẳng trước ga-ra. Nó không chuyển động cho đến khi có ai đó mở máy.

Vậy, nếu mọi vật đều trung hòa trước Vụ Nổ Lớn thì sao lại có tiếng nổ? Nếu bạn tin vào Vụ Nổ Lớn thì bạn phải tin rằng có một sức mạnh bên ngoài tác động trên khối vật chất trung hòa đó và cung cấp năng lượng cần thiết để tạo ra tiếng nổ. Trên thực tế, bạn đang trực diện với Chúa. “Ban đầu, Đức Chúa Trời !” Câu hỏi đầu tiên vì thế được đặt ra như vầy: “Tôi có đức tin để tin rằng vật chất và năng lượng hiện diện miên viễn (điều này sẽ gây ra vấn đề là Vụ Nổ Lớn đã nổ cách nào ?) hay tôi có đức tin để tin vào một Đấng Tạo Hóa, là Chúa Hằng Hữu ?” Mọi người đều tin vào điều gì đó vĩnh cửu.

Ông Phillip E. Johnson, người được ủy quyền cải chánh đầu tiên, dạy luật tại đại học California ở Berkeley, cho rằng giới truyền thông thường coi các nhà sáng tạo là không hiểu gì về khoa học. Ông viết: “Thật ra, còn có nhiều điều nữa về sự tranh chấp Sáng tạo - Tiến hóa hơn là như chúng ta thấy, hay đúng hơn như các nhà truyền thông nhìn thấy khi họ đưa ra một mẫu người sáng tạo như là không biết gì hết, chỉ biết trích từ Kinh Thánh mà lại từ chối trực diện với chứng cứ khoa học. Các nhà sáng tạo có thể sai về nhiều điều, nhưng họ có ít nhất một điểm rất quan trọng để lập luận, một điểm đã bị bỏ qua vì quá chú trọng vào trận Đại Hồng Thủy và các vấn đề phụ thuộc khác. Cái điều mà các nhà khoa học dạy là “tiến hóa” và họ cho đó là sự thật không hề dựa trên bằng chứng có thực nghiệm, không chối cãi được, mà lại dựa trên ước đoán triết học rất khó tin. Như vậy, sự tranh cãi về thuyết tiến hóa sẽ không chấm dứt khi chúng ta hiểu vấn đề nhiều hơn. Trái lại, chúng ta càng biết về nội dung triết học của cái mà các khoa học gia gọi là ‘sự thật của thuyết tiến hóa’ thì chúng ta càng không thích” (The Establishment of Naturalism, Phillip E. Johnson, 1990, trang 1, 2).

Cũng như nhiều người chúng ta, ông Johnson lo ngại khi thấy các giáo viên dạy khoa học của các trường công lập và các giáo sư đại học rời khỏi lĩnh vực khoa học để bước vào lĩnh vực giáo dục tôn giáo (niềm tin) khi họ coi sự tiến hóa của những phân tử thành một người như là một sự kiện khoa học. Trong những năm học khoa học ở trường đại học Bucknell và đại học Pittsburgh, tôi được dạy rằng khoa học và hóa thạch chứng minh thuyết tiến hóa là đúng - rằng bước biến chuyển quan trọng trong tiến hóa từ một loài này sang một loài khác được “xảy ra trong vòng những khoảng đứt đoạn.” Tôi đồng ý với ông Johnson khi ông đặt dấu hỏi về thuyết tiến hóa và những người chấp nhận nó. Theo thuyết tiến hóa, “...động cơ tiến hóa đã làm được những sự sáng tạo kỳ diệu, không phải vì họ chứng minh được nhưng vì họ thấy không gì hơn là chấp nhận một giải thích là có những điều kỳ diệu mà không có sự can thiệp của một Đấng Tạo Hóa. Họ không chịu nhìn nhận vì Tạo Hóa là một Đấng hoặc là một sức mạnh ngoài thế giới tự nhiên ” (The Establishment of Naturalism , Phillip E. Johnson, 1990, trang 1, 2). Ngày nay chúng ta đang sống giữa những thôi thúc kêu gọi chối bỏ, không tin hoặc không thừa nhận một Đấng thật sự là Chúa mà chúng ta biết là vĩ đại hơn khoa học vì Ngài là Đấng Tạo Hóa của muôn loài.

CHÚA - ĐẤNG TẠO HÓA

chuasangtao-6
M
ặc dầu ý nghĩ có Chúa, Đấng Tạo Hóa, ở ngoài thế giới thiên nhiên không được chấp nhận bởi phần lớn những người theo thuyết tiến hóa, Kinh Thánh dạy chúng ta rằng Chúa Hằng Hữu đã tạo ra vũ trụ và Ngài làm điều đó bởi, do và cho Con duy nhất của Ngài là Đức Chúa Giê-xu Christ. Đức Chúa Con Hằng Hữu đã có mặt khi bắt đầu tạo dựng như chúng ta thấy đại từ chỉ số nhiều trong
Sáng thế ký 1:26: “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta.” Chúa Con đã đứng ra sáng tạo nên mọi sự, điều này được dạy trong sách Giăng:

“Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài. Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người” (Giăng 1:1-4).

Những câu trên cho thấy Chúa Giê-xu là Đấng Tạo Hóa và mọi sự được chính Ngài tạo nên. Một bằng chứng khác cho thấy Chúa Giê-xu đã tạo ra thế gian được chép trong sách Hê-bơ-rơ: “Đức Chúa Trời… đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập nên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian” (Hê-bơ-rơ 1:1-2). Bức thư gởi cho người Cô-lô-se cũng nói đến Chúa Giê-xu là Đấng tạo ra mọi sự, và gọi Ngài là Đấng “giữ gìn mọi sự lại với nhau” (Cô-lô-se 1:15-17).

Các nhà khoa học nói: “Chúng ta có vấn đề. Không có đủ ngôi sao, mặt trăng và các hành tinh để giữ vũ trụ lại với nhau.”. Điều này gọi là vấn đề “thiếu khối lượng”. Mọi vật đáng lý phải bay tung ra, nhưng tất cả lại đang hợp lại với nhau. Một nhà sáng tạo có thể nói: “Tôi biết tại sao vũ trụ đang quây quần với nhau mặc dù có vấn đề ‘thiếu khối lượng’. Chúa Giê-xu, Đấng Tạo Hóa, đã giữ tất cả lại với nhau bằng quyền năng phi thường của Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:1-14 và Cô-lô-se 1:1-29). Khi Kinh Thánh nói đến khoa học, có thể không nói thật đầy đủ, nhưng chắc chắn là đúng. Chúng ta có thể tin như vậy.

Kinh Thánh nói với chúng ta là thế giới đã xuất hiện không phải do kết quả tình cờ của vũ trụ mà là do sự tạo dựng đặc biệt với một mục đích duy nhất. Chúa muốn một ai đó có thể mang vinh hiển cho Ngài và Ngài có thể thông công được. Sau cùng, Đấng Tạo Hóa sẽ bước vào thời gian và tạo vật của Ngài để trở thành Đấng Cứu Rỗi. Vấn đề này sẽ được đề cập nhiều hơn trong những trang sau.

Theo ngôn ngữ Hê-bơ-rơ cổ trong Cựu Ước, một chữ được lặp lại là để nhấn mạnh việc đó. Ví dụ, trong Ê-xê-chi-ên 6:3, sự lặp lại là để nói với chúng ta bản chất thánh vô cùng của Chúa: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va Vạn Quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài!” Không có gì thánh hơn Chúa được. Ngôn ngữ Hê-bơ-rơ dùng một chữ ba lần để cho thấy bản chất thánh khiết tuyệt đối của Chúa. Cũng vậy, Sáng thế ký nhấn mạnh Sự Sáng Tạo. Môi-se, dưới sự mặc khải của Chúa Thánh Linh, đã viết:

“Đây là sách chép dòng dõi của A-đam. Ngày mà Đức Chúa Trời dựng nên loài người, thì Ngài làm nên loài người giống như Đức Chúa Trời, Ngài dựng nên người nam cùng người nữ, ban phước cho họ, và trong ngày đã dựng nên, đặt tên người” (Sáng thế ký 5:1-2).

CON NGƯỜI - LOÀI ĐƯỢC TẠO DỰNG

Con người được dựng nên, được dựng nên, được dựng nên! Chúng ta không thể nào nhấn mạnh hơn thế. Kinh Thánh không nói con người tiến hóa, tiến hóa, và tiến hóa. Nếu Chúa muốn con người xuất hiện sau bao nhiêu thời gian biến đổi do sự tiến hóa thì chắc chắn Ngài đã nói. Nhưng lời Ngài là chân lý và chân lý nói rằng con người được sáng tạo.

Không những con người đã được Đức Chúa Trời tạo dựng nên, mà còn được tạo dựng nên theo hình ảnh Ngài. Có phải Chúa đã dùng lời phán mà tạo ra vạn vật, lại phải dùng hàng triệu năm để từ sai lầm tiến hóa này đến sai lầm tiến hóa khác mới đạt được hình ảnh của Ngài ở con người? Lẽ tất nhiên là không bao giờ!

Nếu con người thật sự đã tiến hóa từ loài khỉ thì “bà Ma-ri thế nào?” Có phải bà mẹ trần gian của Chúa Jêsus cũng từ những gien của loài khỉ mà ra sao?” Nếu bà Ma-ri là “bà con xa” của loài khỉ, thì Chúa chúng ta cũng vậy về phương diện di truyền sao? Bà Ma-ri được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa chứ bà không phải là hậu duệ của loài khỉ.

Kinh Thánh nói rằng Chúa tạo ra con người theo hình ảnh Ngài liền tức khắc (Sáng thế ký 1:27). Chúa Giê-xu, Đấng Tạo Hóa, chứng thực điều này trong Tin Lành Mác 10:6. Ngài phán: “Nhưng từ lúc đầu sáng thế, Đức Chúa Trời làm ra một người nam và một người nữ .” Vấn đề trong câu Kinh Thánh 10:6 là ly dị. Chúng ta biết rằng loài gián, thỏ và chuột không có ly dị. Đấng Tạo Hóa đang nói về con người, vì con người có ly dị. Đấng Tạo Hóa của hôn nhân một nam một nữ cho đến chết mới lìa nhau phán với chúng ta ly dị không phải là giải pháp Ngài dùng giải quyết vấn đề kiêu ngạo và ích kỷ trong hôn nhân. (Nếu bạn muốn đọc thêm xem Thánh Kinh nói gì về vấn đề này xin xem trong Ma-la-chi 2:13-16; Phục Truyền 24:1-5; Ma-thi-ơ 5:31-32; 19:3-12; Mác 10:1-12; Lu-ca 16:18; ICô-rinh-tô 7:10-16). Loài người, được tạo dựng liền tức khắc theo hình ảnh Chúa, có mặt ngay từ lúc ban đầu (tôi nghe phần trình bày này trên một băng cassette về sự đối lập của tiến hóa và sáng tạo do Cơ Quan Truyền Giáo Floyd Jones, 8222 Glencliffe Lane, Houston, Tx 77070 phát hành).

Nếu chúng ta tin những gì Kinh Thánh nói (và quyển sách này sẽ cho thấy chúng ta không có chứng cớ khoa học để không tin) thì riêng Mác 10:6; cũng đủ đập tan lời dạy về tiến hóa. Có người nam và người nữ trên mặt đất ngay từ đầu. Đấng Tạo Hóa phán như vậy. Điều đó không dành chỗ trống cho thuyết hàng triệu năm biến đổi từ hình dáng loài thú (những người vượn quá độ) để từ từ tiến hóa, từ tế bào đơn thuần đến loài khỉ rồi đến loài người.

LOÀI NGƯỜI ĐƯỢC TẠO DỰNG HOÀN TOÀN TRƯỞNG THÀNH

Chúa đã tạo dựng người nam và người nữ đầu tiên là những người trưởng thành ngay tức thì. Ngài tạo ra A-đam hoàn toàn trưởng thành khi mới được một giây tuổi đời (vừa ra đời là đã trưởng thành). Từ xương sườn A-đam (được lấy ra sau một cuộc gây mê đầu tiên!), Chúa tạo nên Ê-va, người vợ hoàn toàn trưởng thành của A-đam.

Nếu A-đam lúc đó hỏi, “Ê-va, em bao nhiêu tuổi?” Nàng chắc sẽ trả lời, “Một phút, anh A-đam!” Nàng đã được dựng nên với bề ngoài của một người trưởng thành. Có lẽ trong khoảng 25 tuổi, nhưng phải đợi một năm sau để ăn sinh nhật một tuổi của mình. Nếu Ê-va nói, “A-đam, em đói!”, A-đam chắc đã với tay hái một trái đào chín mộng mặc dầu cây đào chỉ mới có ba ngày tuổi. Chúa cũng dựng nên cây cối đã lớn, bề ngoài già giặn, có trái chín, nhưng chỉ mới ba ngày tuổi. Những cây ba ngày tuổi này đang mọc trên đất được tạo dựng hoàn toàn trưởng thành, kết nhiều quả. Trên đất này có cây dương xỉ xanh tươi và các loài hoa đang nở rộ. Những con khủng long khổng lồ tuổi từ vài phút đến vài giờ đang đi dạo với A-đam và Ê-va (rất may chúng ăn cây cối chứ không ăn thịt người, Sáng thế ký 1:30). Ngay cả ánh sáng của ngôi sao cũng được tạo ra ngay khi Chúa dựng các ngôi sao. Đối với các nhà khoa học, ánh sáng từ ngôi sao xa nhất phải mất nhiều triệu năm mới đến được mặt đất, nhưng nếu Chúa tạo dựng một hệ thống đã trưởng thành trọn vẹn thì ánh sáng đó cũng chỉ bằng tuổi của ngôi sao thôi! (Chương 10, “Ánh sáng từ những ngôi sao xa nhất,” sẽ bàn về vấn đề này.)

Khi tôi bàn về vấn đề tạo dựng sự vật ở tình trạng trưởng thành với một lớp sinh viên đại học, một bàn tay thế nào cũng giơ lên. Một sinh viên sẽ nói, “Vậy thì Chúa nói láo. Ngài tạo dựng một vật không đúng như bề ngoài của nó. Ngài tạo A-đam, Ê-va và khủng long hoàn toàn trưởng thành, nhìn thì già, nhưng thật sự chưa già.” Không, Chúa không nói láo. Ngài nói y như Ngài làm trong Sáng thế ký 1:1-2:25. Vấn đề là chúng ta không muốn tin. Thay vì tin Thánh Kinh, chúng ta chấp nhận lý thuyết suy đoán của tiến hóa.

Hãy nhớ là trong Hê bơ rơ 1:1-14; Cô lô se 1:1-29 và Giăng 1:1-51, Chúa cho chúng ta biết Đức Chúa Giê-xu là Đấng Tạo Hóa. Phải chăng Chúa không có khả năng tạo dựng vũ trụ đã trưởng thành? Đấng Tạo Hóa đã bước vào không gian, thời gian, và lịch sử để trở thành Đấng Cứu Thế. Ngài làm ra phép lạ đầu tiên trong một hôn lễ ở Ca-na như đã ghi trong 2:1-25.

CHÚA GIÊ-XU HÓA NƯỚC THÀNH RƯỢU NGON (ĐÃ ĐƯỢC Ủ LÂU NGÀY)

Mấy chục năm trước khi Chúa Giê-xu và sứ đồ Giăng bước đi trên đường đến Ca-na, quyển Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ được dịch ra tiếng Hy Lạp. Bản dịch này được gọi là LXX, tức bản Bảy Mươi. Khi Giăng viết hai đoạn đầu sách Giăng, có lẽ ông vẫn còn nhớ hai đoạn đầu của Cựu Ước Bảy Mươi. Chẳng những ngôn từ Hy Lạp được dùng giống nhau mà Giăng 1:1-51 và Sáng-thế Ký 1:1-31 đều nói về sự bắt đầu của thế gian và Giăng 2:1-25 với Sáng-thế Ký 2:25 cùng nói về người nam và người nữ bước vào hôn nhân.

Như ghi trong Giăng 2, tiệc cưới tại Ca-na hết rượu. Có sáu cái ché đá đựng đầy nước được Chúa Giê-xu hóa thành rượu. Người làm công mang rượu này đến người quản gia. Ông ta nếm thử và nói: “Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi giữ lại rượu ngon đến bây giờ” (Giăng 2:10) .

Rượu ngon phải được làm cách nào? Phải được để lâu. Vậy rượu này làm ra bao lâu rồi? Chỉ một hoặc hai phút. Đấng Tạo Hóa đã bước vào thời gian để thực hiện phép lạ đầu tiên để “tỏ bày sự vinh hiển của mình” ( 2:11). Ngài muốn môn đồ biết Ngài là ai. Muốn vậy, Ngài tạo nên loại rượu đã để lâu ngày. Rượu mới làm vài giây lại có mùi vị như đã được ủ rất lâu rồi . Bao nhiêu ché tất cả? Sáu! Bao nhiêu ngày Chúa làm việc trong tuần lễ sáng tạo? Sáu! Khi Giăng viết sách Tin Lành Giăng, có lẽ ông đã nghĩ tới Sáng-thế Ký 1:1-2:25 . Trong Sáng-thế ký, Chúa tạo dựng vũ trụ đã có tuổi trong 6 ngày. Trong Giăng 2:1-25, Chúa hóa nước thành loại rượu đã được cất ủ rất lâu trong sáu ché đá.

Kinh Thánh chỉ có một giải thích; tuy vậy, có nhiều áp dụng khác nhau. Một áp dụng của 2:1-25 là Đấng Tạo Hóa không cần thời gian. Ngài có thể tạo ra bất cứ gì Ngài muốn để làm cho nó có vẻ “đã có nhiều năm tuổi rồi.” Vật mới được tạo ra có thể có vẻ như đã trải qua một tiến trình cần thời gian, nhưng kỳ thực lại không cần phải có chút thời gian nào cả. Chúa Giê-xu bày tỏ sự vinh hiển của Ngài khi thực hiện phép lạ đầu tiên trên đất không cần đến thời gian, cũng như Ngài đã tạo ra mọi thứ trong vũ trụ một cách hoàn hảo, hoạt động trọn vẹn và ngay tức khắc.

PHI-E-RƠ MUỐN GIẾT NGƯỜI

Khi Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đến với một đám đông để bắt Đức Chúa Giê-xu, Phi-e-rơ chụp lấy thanh gươm và nhắm vào đầu một người trong bọn chúng. Người này cúi xuống né và Phi-e-rơ đã chặt đứt lỗ tai của hắn. Có phải Chúa Jêsus đã lượm phần lỗ tai bị đứt lìa lên, lấy kim chỉ ra khâu lại, và nói, “Hai tuần lễ nữa hãy trở lại đây để ta cắt chỉ!” hay không? Tất nhiên không! Ngài đặt lỗ tai lại trên người đó, không chỉ khâu, không một tiến trình điều trị nào diễn ra cả, không cần một chút thời gian nào. Chúa của Thánh Kinh không cần thời gian. Không ai có cách nào gắn lại một lỗ tai bị đứt lìa mà không trải qua nhiều ngày đợi chờ nó từ từ liền lại... ngoại trừ Chúa của chúng ta.

Đấng Tạo Hóa không cần thời gian để làm việc gì mà con người (hữu hạn) cho là phải cần thời gian.

CHÚA TẠO THỜI GIAN

Chúa tạo dựng thời gian. Ngài không lệ thuộc nó vì Ngài là vĩnh hằng và thời gian là hữu hạn, tạm bợ. Đó là sứ điệp của IIPhi-e-rơ 3:8: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày.” 3:8 không dạy là mỗi ngày của tuần lễ tạo dựng bằng 1.000 năm hoặc lâu hơn hay ngược lại (1.000 năm bằng một ngày ), nhưng chỉ cho chúng ta thấy là Chúa ở trên thời gian. 3:8, 9 cho biết thời gian không có ý nghĩa gì đối với Chúa trong khi Ngài đợi chúng ta đến và ăn năn!

Những việc làm trong tất cả các phép lạ của Đấng Tạo Hóa, có lẽ ngoại trừ chuyện đi trên biển, đều có vẻ như cần phải có thời gian (đối với con người)! Nhưng Chúa chúng ta không cần thời gian để làm phép lạ và Ngài cũng không cần thời gian để tạo ra vũ trụ. Để có thể tin Chúa đã tạo dựng vũ trụ trong 6 ngày-24-giờ (như được chép trong Sáng-thế ký), chúng ta phải giả định là Ngài có thể và phải tạo dựng mọi sự với vẻ ngoài như đã có tuổi. Các phép lạ Ngài làm cho thấy rất phù hợp với quyền năng và bản chất của Ngài. Chúng ta có thể tin Kinh Thánh theo nghĩa thông thường của các câu chuyện được kể và câu văn được dùng. Chúng ta sẽ thấy, trong các chương tới, là không có một lý do khoa học nào để chúng ta không tin Kinh Thánh. Dĩ nhiên là tôi đã không hiểu điều này vào năm 1971 và 23 năm sau tôi vẫn còn đang tìm học. Trong khi nói chuyện với các sinh viên ở Bangkok, tôi bắt đầu nhận thức là thuyết tiến hóa và Sự Sáng Tạo chép trong Kinh Thánh không thể hòa nhập được. Ngay cả việc tin rằng Chúa dùng quá trình tiến hóa trong thời gian dài để thay đổi những phân tử, nguyên tử thành tôi hay bạn (tiến hóa hữu thần) cũng không thích hợp. Điều này sẽ tạo ra hình ảnh một Thượng Đế xấu xa, ngu đần vì cần hàng triệu năm (thú dữ ăn thịt thú khác hay là “mạnh sống yếu chết”) để tạo ra điều mà Ngài cho là hoàn toàn đầy đủ để nói rằng con người đã đạt đến hình ảnh của Chúa. Hơn nữa, tiến hóa làm cho Chúa lệ thuộc vào giới hạn của thời gian.

Có thể nào sự tiến hóa từ phân tử đến người không được đặt căn bản trên khoa học mà là trên những giả định vô phương chứng minh hay không? Chúng ta sẽ xem xét vấn đề này trong chương 2.

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Con Bọ Quýt

conboquyt
N
ếu có tạo vật nào trên đất không thể tiến hóa được thì đó là con bọ quýt. Nó cần được Chúa tạo ra với mọi bộ phận hoàn toàn thích hợp cho sự sống của nó.

“...Con bọ quýt tỏ ra thật độc đáo trong thế giới loài vật. Hệ thống tự vệ của nó rắc rối đến lạ kỳ, một sự phối hợp giữa hơi cay và súng máy. Khi nào nó cảm thấy nguy hiểm, nó ngấm ngầm trộn chất enzyme chứa trong một ngăn của cơ thể nó với những dung dịch cô đọng của vài hợp chất vô hại, hydrogen peroxide và chất hydroquinones, rồi chứa chất đó vào một ngăn thứ nhì. Nó sẽ tạo được một chất độc ăn da benzoquinones và có thể bắn ra từ thân nó với nhiệt độ 212oF (100oC). Hơn nữa, chất nước đó được bơm qua hai cái vòi ở đằng sau, có thể quay được như ổ súng trên phi cơ B-17 để bắn trúng một con kiến đói hay một con ếch hết sức chính xác” (Tạp chí Time số ra ngày 25/02/1985, trang 70).

Thuyết tiến hóa gặp khó khăn lớn khi cố giải thích sự hiện diện và sự phức tạp của con bọ quýt. Mỗi một giai đoạn hòa trộn các hóa chất đặc biệt sẽ đưa nó vào chỗ bị tiêu diệt.

Con bọ đo được nửa inch (1,25 cm) này trộn các hóa chất có một phản ứng rất dữ dội và tạo thành một vụ nổ. Làm sao con bọ này sử dụng được phương tiện tự vệ đó mà không bị chết giữa chừng? Vấn đề này làm cho các vị theo thuyết tiến hóa bù đầu. Thuyết này bảo rằng chúng (động thực vật - ND) không tiến hóa một cái gì đó cho đến khi thấy cần đến nó. Nói cách khác, loại enzyme mới hay hóa chất, bộ phận trong cơ thể hay cái vây (cá) hoặc mỏ (chim) hay xương đều không tiến hóa cho đến khi con vật thấy cần phải có sự cải tiến. Con bọ quýt không biết rằng nó cần một phương cách ngăn ngừa hóa chất nổ tung trước khi việc trộn hóa chất thành công và phát nổ. Lẽ dĩ nhiên, nó không thể tiến hóa sau khi chết, vậy thì làm sao? Các nhà tiến hóa nói, “Tôi không biết!”

Để tránh bị hủy diệt, con bọ tí hon này làm ra một hóa chất khác, gọi là chất ức chế và trộn nó với chất nổ kia. Nhưng với chất ức chế, nó không thể làm nổ được khối chất lỏng nóng bỏng và hơi cay để ngăn kẻ thù. Con nhện sẽ ăn nó vì con bọ không có cách tạo nổ để tự vệ. Thế là chúng ta lại có một con bọ chết nữa! Những con bọ chết thì không thể tiến hóa để tạo các hóa chất cần thiết cho việc giải tỏa phản ứng bảo vệ. Hóa chất đó là một thứ chống lại thứ chất ngăn chặn vụ nổ xảy ra (một chất sẽ vô hiệu hóa chất ức chế - ND). Khi chất vô hiệu hóa chất ức chế được thêm vào thì vụ nổ sẽ xảy ra, và con bọ có thể tự vệ được. Nhưng, có một vấn đề khác: con bọ cần một “khoang đốt” (combustion chamber) thật bền, và khoang này phải có đường thoát năng lượng của vụ nổ, nếu không, một lần nữa chúng ta lại có một con bọ chết trong tay. Vấn đề được giải quyết như sau: Sinh vật đặc biệt này có đủ mọi thứ trang bị cần thiết, kể cả hai ống sau đuôi để thoát năng lượng khi có phản ứng tự vệ. Những ống này có thể nhắm vào vào kẻ thù trong một  vòng cung 180o, thẳng về phía sau cho đến thẳng về phía trước. Và lạ lùng là nó chỉ bắn kẻ thù chứ không bắn bạn! Làm sao một con bọ chỉ lớn độ nửa inch (1,25 cm) lại biết nhắm vào chỉ kẻ thù mà thôi? Và làm thế nào hệ thống thần kinh vô cùng rắc rối cũng như hệ thống khởi tạo các hóa chất tinh vi của nó tiến hóa được? Không có loài nào trong các loài động vật giống như con bọ quýt.

Có phải đây là một ví dụ của “khách quan, cộng với thời gian, cộng với ngẫu nhiên” hay là ví dụ của một sự tạo dựng tinh vi, đặc biệt bởi một Đức Chúa Trời có liên hệ mật thiết với tạo vật của Ngài? Hệ thống nào có thể cắt nghĩa được một cách đáng tin về con bọ quýt kỳ diệu này, Tiến Hóa hay Sáng Tạo? (Dinosaurs Those Terrible Lizards, tiến sĩ Duane Gish, trang 50-55. Những trang này mô tả con bọ quýt. Quyển sách cho trẻ em này chủ yếu viết về khủng long.)


tiếp theo bấm trang 2 ở trên...

P2

...VÀ ĐẾN CÁC GIẢ THUYẾT

chuasangtao-1
N
hiều giáo sư dạy khoa học tại các trường đại học chẳng bao giờ nói với sinh viên của mình là thuyết tiến hóa từ một tế bào đến một con người chỉ dựa trên những giả thuyết. Giả thuyết là gì? Nó là một cái gì đó được cho là tất nhiên (được mặc nhiên công nhận) và giả định là sự thật (theo Webster’s Third New International Dictionary , trang 133, xuất bản năm 1983). Trên cương vị là một người tin vào Sự Sáng Tạo, tôi tin rằng Thượng Đế đã tạo dựng vũ trụ và mọi thứ trong trạng thái hoàn toàn trưởng thành (đã có tuổi ). Tôi không thể chứng minh điều này bằng thực nghiệm khoa học, thế cho nên niềm tin này được cho là một thuyết. Tôi tin nó là thật. Những nhà theo thuyết tiến hóa cũng vậy, họ có những giả thuyết. Họ đã thực hiện nhiều bước cần thiết để cố gắng minh chứng sự tiến hóa từ một tế bào thành con người. Nói cách khác, các nhà tiến hóa giả định rằng những hóa chất vô cơ đã làm xuất hiện tế bào sống đầu tiên đó, một tế bào mà lần hồi đã tiến hóa trở thành những dạng thức phức tạp hơn nữa của sự sống. Không có thực nghiệm khoa học nào chứng minh giả thuyết từ phân tử đến con người cả.

Là một người theo thuyết tiến hóa, G. A. Kerkut đã đưa ra một bản danh sách các giả thuyết chính của sự tiến hóa. Đó là những giả thuyết chủ yếu mà một người theo thuyết tiến hóa “cho là tất nhiên” hay “giả định” là thật. Toàn bộ “khoa học từ phân tử đến loài người” được xây dựng trên những giả thuyết, nhưng bạn hiếm khi, hoặc chẳng bao giờ thấy họ liệt kê chúng ra trong một trường trung học hay đại học.

“Có 7 giả thuyết cơ bản thường không được bàn đến trong những cuộc hội thảo về sự tiến hóa. Nhiều nhà theo thuyết tiến hóa bỏ qua sáu giả thuyết đầu và chỉ chú trọng đến giả thuyết thứ bảy. Các giả thuyết đó như sau:

1. Giả thuyết đầu tiên là: Những thứ vô cơ đã làm xuất hiện vật chất sống, tức là sự tự sinh đã diễn ra.

2. Giả thuyết thứ hai là: Sự tự sinh chỉ xuất hiện một lần duy nhất.

3. Giả thuyết thứ ba: Vi-rút, vi khuẩn, thực vật và động vật đều liên quan với nhau.

4. Giả thuyết thứ tư: Nguyên sinh vật (dạng sống đơn bào) làm xuất hiện metazoa (dạng sống đa bào).

5. Giả thuyết thứ năm: Các loài thuộc hệ động vật không xương sống có mối quan hệ với nhau.

6. Giả thuyết thứ sáu: cho rằng động vật không xương sống là tiền đề (làm xuất hiện) cho động vật có xương sống.

7. Giả thuyết thứ bảy: Trong giới động vật có xương sống, loài cá là tiền đề cho lớp lưỡng thê, lớp lưỡng thê là tiền đề cho loài bò sát và loài bò sát là cội nguồn của chim chóc và động vật” (Implications of Evolution, G. A. Kerkut, 1960).

TỪ PHÂN TỬ ĐẾN NGƯỜI LÀ MỘT GIẢ ĐỊNH

Toàn bộ thuyết tiến hóa gồm hết thảy những “giả thuyết” mà tiến sĩ Kerkut đã nêu ra. Nói cách khác, không có một (ngành) khoa học thực nghiệm (kiểm chứng được, và tái thực hiện được mà vẫn cho kết quả như nhau - ND) nào làm nền tảng cho thuyết tiến hóa cả. Toàn bộ tiến trình từ vật chất vô cơ, không có sự sống, đến vật chất hữu cơ, sự sống đầu tiên, sự biến đổi từ tế bào đến con người và cây tùng khổng lồ đều là giả thuyết.

Tiến sĩ Kerkut đã nêu rõ ràng giả thuyết về sự tiến hóa của mọi sự sống đều bắt đầu từ tế bào đầu tiên đó. Tuy nhiên, nhờ kính hiển vi điện tử, các nhà khoa học khám phá là có sự khác biệt về bản chất của tế bào trong các loại động vật khác nhau. Kính hiển vi cho thấy những chất sống trong Cây tiến hóa không có vẻ gì liên quan với nhau hết. ICô-rinh-tô 15:39 chép: “Mọi xác thịt chẳng phải là đồng một xác thịt, nhưng xác thịt loài người khác, xác thịt  loài thú khác, loài chim khác, loài cá khác .” Điều này được viết 1900 năm trước khi các khoa học gia khám phá ra sự khác biệt các phần tử tế bào trong các sinh vật. Chúa tạo ra sự sống và mặc khải cho sứ đồ và các tiên tri để ghi lại chi tiết của sự tạo dựng mà các khoa học gia bây giờ mới bắt đầu khám phá ra. Chúa nói có nhiều loại thịt khác nhau trong cơ thể của các tạo vật trên đất. Thiên thể cũng có nhiều loại khác nhau - ngôi sao này khác với ngôi sao khác, và cũng không giống mặt trăng (ICô-rinh-tô 15:41). Các nhà thiên văn ước lượng có một triệu tỉ tỉ (1024) ngôi sao. Những cuốn từ điển Anh văn đầy đủ nhất có ít hơn 800.000 từ. Thế mà Chúa của Thánh Kinh có một cái tên và một con số cho mỗi ngôi sao, “... và đặt tên hết thảy”! (Ê-sai 40:26). Quyền năng và sự khôn ngoan của Thượng Đế quả là vô biên.

Từ ngôi sao lớn nhất đến một nguyên tử nhỏ nhất, tầm vóc và sự phức tạp của vũ trụ không cắt nghĩa được, ngoại trừ bằng ngôn ngữ của một Nhà Thiết Kế và Sáng Tạo vô cùng cao xa hơn loại “tiến trình ngẫu nhiên” hoặc kỹ thuật của loài người.

Nhiều khoa học gia giả định là sự sống đến từ hóa chất vô cơ (The Mystery of Life’s Origin, Charles Thaxton, Walter Bradley, Roger Olsen, 1984) và điều này chỉ xảy ra một lần. Họ nói rằng những gì ta thấy đang sống, bất kể thực vật hay động vật, đều từ tế bào đơn thuần, nguyên thủy đầu tiên đó. Hầu hết các nhà tiến hóa không tin rằng có một sự sống bắt đầu ở Amazon (Nam Mỹ), một sự sống khác ở Phi Châu và một khác nữa ở Arizona (Bắc Mỹ). Họ cho là cái không có sự sống đã sinh ra sự sống trong một tế bào và tế bào này trở thành tổ phụ của mọi cây cỏ và động vật.

Tại sao các nhà khoa học như tiến sĩ Kerkut lại giả định là sự kiện lạ lùng đó chỉ xảy ra một lần? Bởi vì cơ may để sự sống thoát ra từ cái không có sự sống là vô cùng nhỏ nhoi đến độ có thể coi như là không có được nếu thiếu một Nhà Thiết Kế thông minh. Tiến sĩ Henry Morris và tiến sĩ Gary Parker của Viện nghiên cứu về Sáng tạo có ghi lại xác suất của nguồn gốc ngẫu nhiên của sự sống trong quyển Khoa học sáng tạo là gì? (What is Creation Science? - trang 269-276). Nếu toàn bộ vũ trụ cô đặc với hạt điện tử, con số tối đa sẽ là 10130 hạt. Nếu mỗi hạt có thể thực hiện một trăm tỉ tỉ sự kiện (tức bước tiến lên trong tiến hóa) trong mỗi giây, liên tiếp 3.000 tỉ năm (100 lần già hơn tuổi vũ trụ được nhiều người giả định và tin), thì trong khoảng thời gian lịch sử của vũ trụ sẽ có 10127 sự kiện có thể xảy ra. Thế nhưng, để có một loạt 1.500 sự kiện xảy ra theo tuần tự (không có Chúa trợ giúp - những sự kiện này có thể biến đổi từ hóa chất không có sự sống trở thành tế bào sống) chỉ có một cơ may xảy ra trong 10450 (hay 1/10450) lần sự kiện. Có nghĩa là xác suất tiến hóa là số không! Không có đủ điện tử trong vũ trụ để tạo cơ may cho một tế bào sống của một khoa học gia theo thuyết tiến hóa. Thế mà các nhà khoa học này, những người không tin Chúa, vẫn có mặt ở đây. Làm sao họ đến đây được? Không tin Chúa, họ chỉ còn một chọn lựa là thuyết tiến hóa từ hóa chất không có sự sống, trải qua bao nhiêu vạn kỷ thời gian để trở thành tế bào sống rồi sau cùng thành con người.

Gần 150 năm rồi, có nhiều khoa học gia lỗi lạc trên thế giới cố gắng biến hóa chất không có sự sống thành một cấu trúc nào đó để có thể tạo sự sống, nhưng chẳng một ai thành công.

MỘT TẾ BÀO KHÔNG PHẢI ĐƠN GIẢN

Một tế bào đơn thuần có thể tự tái tạo không phải là đơn giản. Tiến sĩ Leon Long, ngành khoa học địa lý của viện đại học Texas tại Austin, là một nhà tiến hóa, viết như thế này:

“Trong số các sinh vật đầu tiên có loại vi khuẩn và loại tảo màu xanh lợt. Chúng đơn giản giống như một tế bào tự túc, nghĩa là không phải đơn giản lắm, vì một số vi khuẩn có thể tổng hợp khoảng 3000 đến 6000 hợp chất với tốc độ lối một triệu phản ứng một giây! Tế bào vi khuẩn và tảo màu xanh lợt chứa đựng đúng một phân tử DNA và nó không có một cấu trúc bên trong rõ ràng như nhân, nhiễm sắc thể, và màng nội tại” (Geology , Leon E. Long, 1974, trang 172).

Chúng ta có ngạc nhiên khi nghe các nhà khoa học nói rằng đời sống từ hóa chất không có sự sống chỉ xảy ra có một lần không? Theo tiến sĩ Long thì dạng sống đơn giản nhất có thể phản ứng một triệu lần trong một giây! Cái gì rắc rối như vậy cần phải có một Nhà Thiết Kế, đó là Đấng Tạo Hóa.

Các khoa học gia không nói nhiều về sự tiến hóa của màng tế bào. Cái màng đóng vai trò bức tường bên ngoài (hay là da) của tế bào rất rắc rối. Chiếc màng này cho phép tập trung đặc biệt nhiều hóa chất và dung dịch vào và ra khỏi tế bào. Nếu sự tập trung vài hóa chất này thay đổi chừng 1/1.000.000, tế bào sẽ chết. Ở một điểm vô cùng nhỏ của vũ trụ, làm sao các hóa chất đó tập hợp đúng loại, cường độ và cùng một lúc? Hơn nữa, làm sao cái màng của tế bào thành hình quanh nó đúng vào lúc đó để chỉ cho nó biết đúng loại hóa chất nào cần phải vào hoặc thoát ra khỏi tế bào (vì nó “biết,” lẽ dĩ nhiên, loại hóa chất nào phải hoặc không phải là gì - nói khác hơn, nó biết hóa chất nào là cần thiết để nhận và không cần thiết nữa để thải ra - ND)? Và làm thế nào những thứ này biết tự sinh sản mà không chết trong tiến trình?

Chúa của Thánh Kinh nói Ngài tạo dựng, tạo dựng, tạo dựng! Tạo vật của Ngài bất chấp những giải thích của thuyết tiến hóa. Tạo vật cần có người thiết kế. Nó đòi hỏi sự sống phải thực hiện đầy đủ chức năng ngay từ ban đầu. Sinh vật học nhìn nhận điều này với một định luật được chứng minh tốt nhất: Sự sống tạo ra sự sống! Nếu cái gì đang sống, nó sống vì có cái khác cũng đã sống và tạo ra nó. Thánh Kinh nói Chúa Hằng Sống là Đấng tạo ra sự sống. Câu này phù hợp với những gì chúng ta thấy trong sinh vật học. Sự sống luôn luôn đến từ sự sống.

Thế nhưng, các nhà hóa học theo thuyết tiến hóa thực hiện các thí nghiệm cốt là để đưa ra những phương tiện đã tạo ra sự sống mà không cần đến Thượng Đế. Nhiều thí nghiệm trong số này cho là bầu khí quyển của trái đất lúc nguyên thủy hoàn toàn khác so với bây giờ. Bầu khí quyển của Mộc tinh được coi là giống với trái đất trước kia. Hơi nước, khí hydro, khí ammoniac và khí mêtan là những chất được cho là có tồn tại trong bầu khí quyển. Vào năm 1953, một nhà hóa học, tiến sĩ Stanly Miller, cho bốn chất này vào một cái lọ bằng thủy tinh, rồi nấu lên và cho những tia điện bắn vào. Ông thu được một chất màu hồng chảy vào ống nghiệm. Chất lỏng này có chứa amino axít (axít amin - ND). Amino axít là thành phần căn bản tạo nên chất đạm (protein). Chất đạm có thể coi là một phần của mô sinh vật, nhưng vẫn không phải là sự sống. Loại thí nghiệm kiểu Miller không chứng minh được các hóa chất tiếp tục tiến tới và tiến lên để tạo ra sự sống, nhưng tiến hóa theo lối này được coi như là đã xảy ra. Trên thực tế, không có di chứng hóa thạch của địa cầu hay trong các đại dương là hơi nước, khí hydro, ammoniac và mêtan đã qui tụ lại đúng như trong thí nghiệm của Miller đã từng xảy ra ngoài thiên nhiên.

Quyển Bí Mật Về Nguồn Gốc Sự Sống (The Mystery of Life’s Origin), cho là không thể có tiến hóa hóa học, chưa được các nhà tiến hóa trả lời. Phản ứng hóa học tình cờ không thể tạo ra sự sống! Tiến sĩ Miller và những người ủng hộ ông không tạo ra được gì gần gũi với sự sống bằng các hóa chất. Dennis Petersen trong quyển sách giàu thông tin của ông, quyển Khám Phá Những Bí Mật của Sự Sáng Tạo (Unlocking the Mysteries of Creation) đã thuật lời của tiến sĩ Henry Morris như sau:

“Không biết hóa chất gì trong thời nguyên thủy... cho đến...không biết phương pháp gì, hiện nay không còn nữa... đã tạo ra...không biết hình thể sự sống gì, hiện không tìm thấy... nhưng có thể...không biết phương pháp tái tạo sự sống... trong một...không biết thành phần khí quyển như thế nào... trong một...không biết nước biển pha trộn thế nào... ở...không biết thời gian và địa điểm.”

Hãy chứng minh bất cứ điều không biết nào vừa kể của phái tiến hóa với đầy đủ các thí nghiệm khả thi thì bạn sẽ đoạt giải Nobel về khoa học!

MỘT NHÀ THIẾT KẾ TRỰC TIẾP TẠO SỰ SỐNG

Chúng ta đừng quên rằng người theo thuyết tiến hóa nói là không có Chúa, không có quyền năng trên cao, không có nhà thiết kế, không có ai đã làm cho sự sống bắt đầu.

Như vậy là không có ai, cộng với thời gian, cộng với ngẫu nhiên (hoặc là không có ai, cộng với không có gì hết), cho ra mọi sự! Vậy, cho dẫu những thí nghiệm của Stanley Miller chứng minh được tiến hóa hóa học (họ đã không làm được điều này!), chúng ta vẫn cần một nhà thiết kế (ông Miller) để tạo ra sinh vật của ông ta. Có phải việc một nhà thiết kế khoa học trực tiếp làm thí nghiệm với những đo lường rất cẩn thận trong phòng thí nghiệm đủ để chứng minh sự sống đã xuất hiện mà không cần một nhà thiết kế tạo hóa (không có Chúa) trong một hoàn cảnh hoàn toàn may rủi, từ chốn sình lầy nguyên thủy không? Dĩ nhiên là không! Chúa chúng ta xứng đáng nhận sự tôn kính và vinh hiển cũng như sự ngợi khen vì chính Ngài, duy Ngài đã tạo ra mọi sự (Khải huyền 4:11). Chúng ta có thể tin Chúa và tin lời Ngài, tức Kinh Thánh. Không gì khó đối với Ngài (Giê-rê-mi 32:17). Ngài là Chúa làm được mọi sự (Lu-ca 1:37).

CÓ AI ĐÃ TỪNG TRÔNG THẤY MỘT ĐIỆN TỬ?

Một nhà khoa học vĩ đại của thời đại không gian, tiến sĩ Werner von Braun, đã nói: “Không có ai tiếp cận với quy luật và trật tự của vũ trụ mà không đi đến kết luận rằng nó phải được thiết kế có mục đích trong mọi sự... Càng hiểu rõ những phức tạp và những bí ẩn của vũ trụ, chúng ta càng có lý do để thán phục sự thiết kế cố hữu làm căn bản cho cả vũ trụ."

Chỉ tin một kết luận - mọi việc trong vũ trụ đều xảy ra cách tình cờ - là đã phạm đến bản chất khách quan của khoa học. Quá trình ngẫu nhiên nào có thể tạo bộ óc hoặc hệ thống tri giác của con người? Họ (những nhà tiến hóa) thách đố khoa học chứng minh sự hiện diện của Chúa. Nhưng chúng ta có cần thắp ngọn nến để nhìn thấy mặt trời không?... Họ nói họ không hình dung được một nhà thiết kế. Thế thì, có nhà vật lý nào hình dung được điện tử không?... Lý do kỳ quái nào đã khiến cho nhiều nhà vật lý chấp nhận cái không thấy được, là điện tử, là có thật mà lại từ chối nhìn nhận Đấng Thiết Kế với lý do họ không thể thấy được Ngài?...” (Unlocking the Mysteries of Creation, Dennis R. Petersen, 1988, trang 63.)

Hãy hỏi bất cứ nhà khoa học nào là họ tin có điện tử không. Họ sẽ trả lời: “Dĩ nhiên.” Hỏi nhà khoa học đó có bao giờ họ thấy điện tử không, họ sẽ trả lời: “Không.” Khoa học gia tin điện tử do đức tin khi họ quan sát kết quả của các hoạt động điện tử.

Như vậy không phải cũng giống như đức tin nơi Chúa sao? Chúng ta không nhìn thấy Chúa, nhưng chúng ta có thể “thấy” Ngài qua các công việc tay Ngài làm, đó là Sự Sáng Tạo Vũ Trụ. Rô-ma 1 giải thích là khi chúng ta tìm hiểu những phức tạp của vũ trụ - đại vũ trụ và các tiểu vũ trụ, chúng ta phải nghĩ đến ai tạo ra chúng, khiến chúng hoạt động và giữ chúng quần tụ lại với nhau.

NHỮNG SUY ĐOÁN ĐIÊN CUỒNG

Nếu các nhà khoa học tìm hiểu những ngôi sao lớn nhất và những nguyên tử nhỏ nhất mà không tôn trọng Chúa - Đấng Tạo Hóa, và không cám ơn Ngài thì họ trở thành những kẻ suy đoán điên cuồng (Rô-ma 1:18-23). Có phải sự tiến hóa của một người từ một tế bào đơn thuần là suy đoán điên cuồng không? Tiến sĩ Harrison Matthews, người viết phần giới thiệu cho quyển sách của Darwin: Nguồn Gốc Các Loài Do Sự Chọn Lọc Tự Nhiên, Hay Là Sự Bảo Tồn Các Giống Ưu Đãi Qua Sự Đấu Tranh Sinh Tồn (Origin of Species by Means of Natural Selection or the Preservation of Favoured Races in the Struggle for Life ) khẳng định:

“Sự thật về tiến hóa là xương sống của sinh vật học và sinh vật học đang đứng ở một chỗ kỳ lạ: nó là một khoa học được dựng từ một lý thuyết không được chứng minh. Vậy đó là khoa học hay đức tin? Tin vào thuyết tiến hóa hoàn toàn giống như tin vào một sự tạo dựng đặc biệt - cả hai quan niệm này, người tin biết là đúng, nhưng cho đến bây giờ không cái nào được chứng minh” (L. Harrison Matthews, 1971, trang XI).

Tiến sĩ Matthews, một nhà tiến hóa, cho rằng tiến hóa không có thể chứng minh bằng khoa học được, đó chỉ là một suy đoán do đức tin. Nhưng tiến sĩ Ernst Mayr, giáo sư danh dự của trường đại học Harward viết: “Kể từ Darwin, mọi người hiểu biết đồng ý là con người từ loài khỉ mà ra. Ngày nay không còn cái gọi là thuyết tiến hóa. Đó là sự thật tiến hóa” (Tạp chí Omni, số tháng 2/1983, trang 74).

Tạp chí Omni truyền bá thuyết tiến hóa. Tiến sĩ Mayr trình bày sự tiến hóa vô thần như là một sự thật mặc dầu Đấng Tạo Hóa nói trong Rô-ma 1 rằng mọi người đều biết rõ: “Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật. Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi ” (Rô-ma 1:18-19). 1:22 tiếp lời: “Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại.”

Tiến sĩ Tahmisian thuộc Hội Đồng Năng Lượng Nguyên Tử (Atomic Energy Commission) đồng ý: “Khoa học gia nào đi dạy thuyết tiến hóa là một sự việc có thật trong đời sống là bọn lừa gạt rất thạo, và chuyện họ kể ra có thể là chuyện bịp lớn lao chưa từng có. Khi giải thích về tiến hóa, chúng ta không có một mảy may sự thật nào cả” (The Fresno Bee, tiến sĩ T. N. Tahmisian, 20/08/1959).

Isaac Asimo và Carl Sagan đã trình bày tiến hóa không như là lý thuyết mà như là một sự việc thật đã được chứng minh. Họ làm điều này không có một mảy may nào là thật. Nhà tiến hóa D. M. S. Watson nói hay nhất: “Tiến hóa được chấp nhận bởi các nhà động vật học không phải vì người ta đã quan sát thấy nó xảy ra hoặc vì có một luận cứ mạch lạc và hợp lý, nhưng vì... không có giải thích nào đáng tin hơn. Trong khi sự kiện tiến hóa được các nhà sinh vật học tiếp nhận, cách thức nó đã xảy ra và cơ cấu đã tạo ra sự tiến hóa vẫn còn chưa vững chắc. ...Lý thuyết của tiến hóa là lý thuyết được chấp nhận cùng khắp không phải vì nó có thể được chứng minh là đúng bởi những bằng chứng chặt chẽ và logic, nhưng vì chỉ có một chọn lựa khác là tạo dựng đặc biệt, điều đó rõ ràng không thể tin được” (bài Adaption, tạp chí Nature số ra ngày 8/10/1929, trang 231-233).

Đấng rõ ràng không thể tin được được nói trong Thi-thiên 19:1 rằng:

“Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm.”

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Chim Máy Ấp

chimmaiap
Loài Megapode hay “chim máy ấp” ở Châu Úc là một loài chim rất độc đáo. Nặng khoảng 1,5 đến 2kg, chim này rất giống một con gà mái hay gà tây nhỏ. Nhiều người Úc bản xứ gọi nó là gà tây bụi.

Loài chim này không giống bất cứ loài chim nào khác. Vậy, nếu tiến hóa thì nó tiến hóa từ giống gì? Gần đây, tạp chí Scientific American (số 265, tháng 12/1991, trang 108-114) có viết một bài tư liệu rất hay về lời giải thích của tiến hóa cho nguồn gốc loài chim này, một loài chim vốn ít được biết đến.

Tất cả các loài chim khác đều dùng thân nhiệt để ấp trứng ngoại trừ loài chim này. “Thay vào đó, chúng chất những đống lớn các vật liệu vụn vặt để làm máy ấp; hơi ấm do sự lên men các hợp chất hữu cơ thực hiện công việc này. Có một loài làm cái đống máy ấp (scrub fowl) này cao 6,6 m và rộng đến 16,6 m” (Life Nature Library: The Birds , Roget Tory Petersen, 1973, trang 140).

Thay vì dùng thân nhiệt để ấp trứng (như loài gà ngồi bên trên trứng của nó), chim máy ấp dùng hơi nóng tỏa ra do sự lên men, hoặc “... có loại dùng sức nóng mặt trời và có loại khác dùng sức nóng tỏa ra từ các núi lửa đang hoạt động” (The New Encyclopedia Britanica, đại học Chicago ấn hành năm 1990, trang 1011).

Một con chim dùng sức nóng núi lửa hay sức nóng do sự lên men của cây cỏ (chất hữu cơ - ND) để ấp trứng: thật khó tin! Nếu có loài nào không thể tiến hóa thì loài chim máy ấp của Châu Úc và con bọ quýt chính là loài đó.

Con mái có trách nhiệm làm hai việc. Thứ nhất, nó phải thử cái ổ để biết chắc có thể dùng ấp trứng được hay không. Thuyết tiến hóa có lời giải thích nào về khả năng có thể đánh giá sự thích hợp của cái ổ được đào sâu xuống đất khoảng 90cm, cao trên mặt đất từ 3m trở lên và bề ngang đo được 16,6m? Và điều gì thúc đẩy một con chim trống nặng hơn 1 ký lô lo cất một cái ổ khổng lồ thứ hai nếu con mái chê ổ trước?

Sau khi chấp nhận cái ổ, trách nhiệm thứ hai của con chim mái được thực hiện. Nó đẻ từ 20 đến 35 trứng theo tốc độ cứ 3 ngày một trứng trong vòng 7 tháng. “...Có thể luôn luôn có 16 trứng trong ổ” (trích trang 109). Mỗi trứng nặng khoảng trên 200 gram, to gần như trứng đà điểu. Công việc hết sức nặng nề đối với một con chim mái chỉ nặng hơn một ký lô. Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi làm xong phận sự đẻ trứng, con mái bỏ đi, không bao giờ trở lại. Nó không dự phần vào việc ấp trứng và nuôi con. Điều này chắc không phải lối tiến hóa thông thường của các vị rồi!

Đến lúc này thì con trống bắt đầu thực hiện công việc Chúa ban là điều khiển việc ấp những cái trứng chôn sâu trong ổ. Để giữ cho lũ chim con sống được cần phải giữ nhiệt độ 91oF (32,8oC). Vâng, đúng 91oF! Nếu con trống muốn lũ con của nó sống, nó không được để cho nhiệt độ tăng hoặc giảm hơn một độ! Làm thế nào mà con chim trống có thể giữ nhiệt độ đều đặn ở mức 91oF trong đống cỏ rác rưởi đang phân hủy?

Các khoa học gia không đồng ý về cách thức con chim dùng để đo nhiệt độ. Có người nghĩ cái mỏ chim chính là hàn thử biểu của nó. Người khác cho là cái lưỡi nó có thể phân biệt 91oF và vài phần mười độ bách phân trên hoặc dưới 91oF.

Vấn đề là ở chỗ này, làm cách nào con chim có thể tiến hóa cái khả năng đo nhiệt độ một cách chính xác bằng cái mỏ hoặc cái lưỡi của nó? Thuyết tiến hóa cho là không có gì tiến hóa cho đến khi có nhu cầu. Làm sao con chim biết được nó cần có khả năng giữ trứng ở 91oF? Nó sẽ bị nóng hoặc lạnh và chết trước khi nó biết điều này. Và loài vật đã chết sẽ không tiến hóa để tiến lên một hình thức cao hơn.

Bạn có thể hỏi, “Vậy làm cách nào con chim giữ trứng ở nhiệt độ 91oF?” Chim trống đào sâu trong ổ để kiểm soát nhiệt độ. Trong những ngày nóng, nó có thể chất thêm cát trên đỉnh ổ để che mặt trời. Nó cũng có thể sắp xếp lại nguyên đống lá và cỏ mục vài lần một ngày.

Ngày mát trời, chim trống sẽ đẩy vật liệu ở trên đỉnh ra để có thêm ánh sáng mặt trời rọi vào đống vật liệu hữu cơ đang phân hóa. Để giữ ẩm độ ở mức 99,5% chung quanh trứng, nó có thể đào những lỗ hình nón về phía trứng để có thêm ẩm độ vào sâu trong ổ. Giữ nhiệt độ và ẩm độ thật đúng là một việc khó. Về sự chính xác cần thiết cho việc giữ nhiệt độ để ấp, Seymour viết: “Phương pháp này hết sức chính xác: thêm một cm vật liệu tươi mới vào đống vật liệu cũ sẽ tăng nhiệt độ khoảng 1,5oC” (như trên, Roger Seymour, trang 110).

Không những buộc phải giữ trứng ở nhiệt độ 91oF và 99,5% độ ẩm mà chim con còn cần có đủ không khí để thở nữa. Con chim trống cung cấp không khí tươi mát cho lũ chim con bằng cách mỗi ngày nó đào xuống đến nơi để trứng. Nhưng chim con cần nhận không khí từ trong vỏ trứng. Cách làm cho không khí được đưa vào vỏ trứng và việc con mái làm lúc nó tạo vỏ trứng. Trứng có hàng ngàn lỗ nhỏ. Trên vỏ trứng dày, những lỗ này có hình nón như bánh đựng kem với phần nhọn nằm ở phía trong. Khi chim con tăng trưởng, nó không có đủ không khí từ cái đuôi của lỗ đó, cho nên nó bắt đầu phá bỏ lớp màng phía trong của vỏ trứng. Vỏ trứng từ từ mỏng đi, và lỗ từ từ lớn lên, và con chim con có nhiều không khí hơn. Thật tuyệt!

Cách thức chim nở cũng độc đáo hơn các loài chim khác. Khác với các loài chim khác, loài này sẵn sàng để bay với đầy đủ lông cánh ngay khi ra khỏi trứng. Khi nở xong nó cần đến 3 ngày để đào đường lên, thoát khỏi đống ổ. Làm sao nó biết phải đào đường ra bằng không sẽ chết? Nó không được cha hay mẹ dạy dỗ, vậy mà, nó nằm ngửa trên lưng và đào cho đến khi thoát ra ngoài. Rõ ràng, Chúa của Thánh Kinh có liên hệ đến mọi khía cạnh của tạo vật của Ngài.

Khi ra khỏi rồi, chim con phải tự lo. Nó không được cha hay mẹ cho ăn và săn sóc. Khi nó trưởng thành, con trống sẽ xây một cái tổ vĩ đại làm máy ấp cho trứng của con mái. Nó sẽ xây cái tổ vĩ đại và chính xác đó mà không cần sự chỉ dạy nào của ba mẹ. Đó không phải là cung cách được học hỏi. Làm sao con chim này biết sự quan trọng của 91oF?

Những người có tên tuổi dám bảo là loài chim này là sản phẩm vô tình cộng với thời gian, cộng với sự ngẫu nhiên. Nhưng làm sao con chim máy ấp có thể tồn tại? Chỉ vì một lý do, Chúa của Thánh Kinh sống và có liên hệ đến tạo vật của Ngài.


tiếp theo bấm trang 3 ở trên...

P3

 

ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ BỊ HẠ BỆ KHÔNG?

chuasangtao-9
M
ột ngày nọ, hai học trò nha khoa theo thuyết sáng tạo của tôi xin tôi giải thích cho họ một cách khoa học tiến hóa xảy ra như thế nào. Nói cách khác, họ muốn tôi bênh vực niềm tin tiến hóa của mình bằng cách cho họ biết những bằng cớ khoa học mà tôi có thể đưa ra cho thấy một sinh vật biến đổi thành một sinh vật khác và đồng thời bằng chứng đó có nghịch lại Kinh Thánh không! Darwin có lẽ là chỗ logic nhất để tìm câu trả lời. Tôi tin rằng bằng chứng ở đó nhưng chưa bao giờ tôi bị yêu cầu chứng minh. Tôi hết sức sững sờ. Darwin không biết làm thế nào một giống động vật có thể tiến hóa sang giống khác. Ông ta viết cho một người bạn vào năm 1863 rằng:

“Khi chúng ta đi đến chi tiết, chúng ta có thể chứng minh không có loài nào đổi thay cả (nghĩa là: chúng ta không thể chứng minh có một loài nào đó đã thay đổi): chúng ta cũng không chứng minh được sự thay đổi có lợi, đây là điều nòng cốt của lý thuyết. Ngoài ra, chúng ta cũng không giải thích được tại sao vài loài thay đổi và những loài khác lại không. Trường hợp sau đối với tôi có vẻ khó hiểu rõ ràng và chi tiết hơn trường hợp trước, tức có thay đổi” (The Life and Letters of Charles Darwin , Frances Darwin, 1898, trang 210).

VẤN ĐỀ LỚN THẬT SỰ

Vào năm 1863, bốn năm sau khi ấn hành quyển sách của mình, Origin of Species by Means of Natural Selection or The Preservation of Favoured Races in the Struggle for Life, Darwin rõ ràng đã không biết bằng cách nào một loài này chuyển thành một loài khác. Điều duy nhất ông ta nghĩ mình có thể chứng minh được là “...không có loài nào thay đổi được.” Ông không tưởng tượng được ngay cả sự thay đổi “hữu ích” là thế nào. Các khoa học gia ngày nay cũng không khác gì Darwin.

Năm 1981, những nhà lãnh đạo thuyết tiến hóa có một hội nghị tại Rô-ma. Họ muốn quyết định xem điều gì đã làm cho một loài này tiến hóa sang một loài khác và sự thay đổi một động vật hay thực vật sang một loài khác xảy ra như thế nào. Tiến sĩ Ersnt Mayr, giáo sư danh dự của trường đại học Haward viết: “Chúng tôi có một hội nghị quốc tế tại Rô-ma năm 1981 về cơ chế của sự hình thành loài. Hội nghị có sự tham gia của nhiều nhà thực vật học, động vật học, cổ sinh vật học, di truyền học, tế bào học, và sinh vật học. Một điều mà tất cả đồng ý là chúng ta, về phương diện di truyền, vẫn chưa biết điều gì xảy ra trong khi hình thành loài. Đó là một tuyên ngôn đáng phiền nhưng lại là sự thật” (Tạp chí Omni, tiến sĩ Ernst Mayr, 02/1983, trang 78).

Các khoa học gia ở Rô-ma năm 1981 đã đi đến kết luận: “Chúng tôi không biết sự tiến hóa xảy ra thế nào!” Năm 1863, Darwin cũng chẳng biết. Đó là vấn đề lớn của thuyết tiến hóa: Nó xảy ra như thế nào? Chúa phán Ngài tạo ra mọi vật “tùy theo loại ” (Sáng thế ký 1:11, 12, 21, 24, 25). Các nhà tiến hóa nói họ không biết các “loài” đã ra đời cách nào. Như vậy bạn tin ai? Tin Chúa hay những nhà tiến hóa? Tôi cho là chỉ có Chúa đáng được tôn vinh!

Các khoa học gia không biết một loài này đã chuyển sang loài khác như thế nào. Một hợp chất hóa học đơn giản họ cũng không biết tại sao lại có. Một tác giả và cũng là một người theo thuyết tiến hóa, Jeff Goldberg, có ghi lại cho chúng ta những tư tưởng của Hans Kosterlitz, một trong số những người khám phá ra chất giảm đau tự nhiên trong cơ thể con người, một nội tiết tố trong não có tác dụng ức chế, quân bình sự đau đớn, như sau: “Gần như đó là một câu hỏi của Thượng Đế. Làm việc với nội tiết tố giảm đau (enkephalin) bạn sẽ có cùng một điểm chung, bất luận bạn tin theo tôn giáo nào. Bạn sẽ bắt đầu kinh ngạc, làm thế nào nó lại xuất hiện - cả thực vật lẫn động vật đều chia sẻ cấu trúc hóa học tương tự như vậy? Làm thế nào, dẫu rằng trải qua hàng triệu năm tiến hóa, cả trái đất, với mọi loài thực và động vật bên trên, lại trở nên hết sức đơn giản và nhất quán như vậy?” (Anatomy of Scientific Discovery , Jeff Goldberg, 1988, trang 211).

Kosterlitz tìm hiểu chất giảm đau tự nhiên và sự nghiên cứu về tiểu vũ trụ đã khiến ông suy nghĩ đến Thượng Đế. Nhưng ông lại nhanh chóng đưa ra một lời phủ quyết, “bất luận bạn tin theo tôn giáo nào,” dường như việc suy nghĩ về Thượng Đế là một việc phi tôn giáo khi nghiên cứu chỉ một bộ phận nhỏ trong toàn thể tạo vật của Ngài. Nhìn bên ngoài, Kosterlitz tin rằng Đức Chúa Trời chẳng có liên quan gì đến khoa học cả. Thế nhưng, khi các khoa học gia nhìn vào các tạo vật, Ngài đã định nó như thế để họ nhận ra rằng cần thiết phải có một Đấng Thiết Kế đằng sau tất cả. Tuy nhiên, hầu hết trong số họ lại thêm vào những câu phủ quyết và từ chối tôn vinh Chúa là Đức Chúa Trời. Lời Chúa (trong Rô-ma 1:18-22) tuyên bố rằng: vì lý do đó, sự suy nghĩ của họ trở nên những suy đoán ngông cuồng (sự tiến hóa trong hàng triệu năm, v.v...).

Kosterlitz chất vấn là làm thế nào thực vật và động vật lại “...chia sẻ cấu trúc hóa học tương tự như vậy.” Nếu chúng ta thí nghiệm sự chia sẻ các hợp chất hóa học theo lăng kính một nhà sáng tạo, thì Thượng Đế đã tạo dựng sự sống thích hợp với bầu khí quyển chung của trái đất với một chuỗi các thực phẩm thông thường cấu thành bởi một số hóa chất cơ bản nào đó. Những điều tương tự ở các tạo vật không hề minh chứng cho sự tiến hóa, mà lại càng trình bày một cách logic hơn sự thông sáng của Đức Chúa Trời trong công tác sáng tạo thực và động vật, vốn rất đa dạng, để có thể tồn tại trong một môi trường chung. Đức Chúa Trời đã thiết kế mọi sự sống tồn tại, sử dụng một số hóa chất cơ bản trong một bầu khí quyển được tạo nên phần lớn bởi ôxi và nitơ. Đức Chúa Trời mà Thánh Kinh trình bày quả thật là một Thiên Tài vĩ đại, không tiền khoáng hậu!

ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ BỊ HẠ BỆ KHÔNG?

Jerry Adler, một tác giả khoa học, phê bình quyển sách tầm cỡ thế giới của nhà tư tưởng tiến hóa Stephen Jay Gould, Sự Sống Kỳ Diệu (Wonderful Life ), với những lời như sau:

“Khoa học, vốn đã hạ bệ Đức Chúa Trời, Đấng Sáng Tạo, và tôn vinh con người, ngày nay lại muốn đưa con E. coli (một loại vi khuẩn gây bệnh đường ruột - ND) và những thứ tương tự của sự sống trên cạn lên ngang bằng với Ngài. Quan điểm này không phủ nhận sự độc nhất của giống người hiện tại và sự đóng góp đặc biệt của nó vào sự sống, ý thức con người. Tuy nhiên, nó quả quyết rằng chẳng có gì cố hữu trong những định luật tự nhiên hướng sự tiến hóa đến việc sinh ra con người. Chẳng có gì xác định về tính ưu việt của chúng ta trong hiện tại giữa vô vàn các loài động vật sống trên cạn khác; chúng ta là sản phẩm của một loạt các sự kiện ngẫu nhiên trong lịch sử hành tinh này, bất cứ sự kiện nào cũng đã có thể bị thay đổi để cho ra một kết quả khác.

Nói tóm lại, chúng ta giống như các sinh vật khác vốn đã từng trải qua hay trượt xuyên qua quả đất (walked or slithered across the earth), một sự kiện...

Những kẻ sống sót...rất may mắn.

Câu chuyện của sự sống là sự tuyệt chủng hàng loạt cách định kỳ (periodic mass extinctions) vốn đã cướp mất những giống loài chính trên đất” (Newsweek , Jerry Adler, 20/11/1989, trang 68).

Gould và Adler rõ ràng tin rằng Đức Chúa Trời đã bị “hạ bệ,” rằng khoa học và con người được đề cao, và tất cả những điều này đặt nền tảng trên “những kẻ sống sót may mắn” sau những đợt tuyệt chủng hàng loạt. Thế cho nên, sự tiến hóa có vẻ như được đặt nền móng trên sự chết. Vì những cá thể “không thích hợp” (unfit) chết đi, những cá thể “thích hợp nhất” (fittest) sống sót. Làm thế nào một nhà khoa học có thể mô tả một cá thể “không thích hợp” giữa vòng chúng ta ngày hôm nay? Hitler có tin điều đó không? Hitler là một người theo thuyết tiến hóa và rõ ràng ông đã thúc đẩy tiến trình sống của những cá thể thích hợp nhất. Tiến hóa không phải là phi luân lý (amoral). Nó không phải là một tư tưởng trung lập. Nó đề xướng cả một hệ thống lớn cho phép từng cá nhân làm điều mà cá nhân đó cho là đúng. Tư tưởng tiến hóa cổ xúy cho các chương trình giảng dạy trong các trường học ép buộc những bộ óc non trẻ lựa chọn ai thích hợp để sống sót, và ai thì không thích hợp; ai sẽ được cứu thoát trên tàu cứu nạn và ai sẽ bị bỏ lại để bị đào thải hoặc dìm chết (exposure or drowning). Không ai ngoại trừ Đức Chúa Trời có đủ tiêu chuẩn để quyết định sự sống nào là thích hợp và không thích hợp. Tư tưởng tiến hóa đã đưa đẩy con người một cách sai lầm vào địa vị của Đức Chúa Trời. Nó buộc con người quyết định (chẳng hạn về sự sống và cái chết, phá thai, chết không đau đớn - khi bệnh nhân gần chết, bác sĩ sẽ tiêm thuốc độc để kết liễu cuộc đời người đó, theo yêu cầu của thân nhân...hay chính bệnh nhân - euthanasia - ND -, giết trẻ con...), những chuyện mà chỉ một mình Đức Chúa Trời có quyền làm.

CHÚNG TA THẤY SỰ CHẾT VÀ SỰ TUYỆT CHỦNG CHỨ KHÔNG THẤY TIẾN HÓA

Các khoa học gia rất đúng khi họ nghiên cứu và công bố một sự thật rằng sự tuyệt chủng hàng loạt đã diễn ra trong quá khứ. Hiện tại, sự tuyệt chủng vẫn diễn ra hằng ngày. Điều mà các khoa học gia có thể chứng minh bằng sự kiện có thật đó là sự sống đang biến mất. Sự sống của hàng loạt các loài thực và động vật đang tuyệt chủng. Điều này có chứng tỏ rằng các dạng sống mới hiện đang tiến hóa hay đã từng tiến hóa không? Khoa học đã chứng minh quả quyết là sự sống đang mất dần và vũ trụ đang chết. Các vật hóa thạch là những cớ tích ghi lại sự chết chóc và tuyệt chủng. Vụ nổ kỷ Cambri (Cambrian Explosion ) (_) không phải là một sự bùng nổ của dạng sống đầu tiên, nó là một hóa thạch ghi lại sự chết của hàng triệu các sinh vật phức tạp mà, đa số trong số đó hiện nay không còn tồn tại nữa. Vì thế, khi chúng ta nhìn vào thiên nhiên, chúng ta không thấy các dạng sống mới hình thành, mà chỉ thấy sự chết và tuyệt chủng… entropy (entropy: the degradation of the matter and energy in the universe to an ultimate state of insert uniformity (Webster’s Seventh New Collegrate Dictionary): sự gia giảm vật chất và năng lượng trong vũ trụ đến một trạng thái tuyệt đối của sự đồng chất bất biến - ND) đang hành động.

Đấng Tạo Hóa của Thánh Kinh chính là nguồn gốc sự sống (Giăng 5:26). Đức Chúa Jêsus phán:

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống. Vì như Cha có sự sống trong mình, thì Cha cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình vậy. Cha đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì là Con người. Chớ lấy điều đó làm lạ, vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi: ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán ” (Giăng 5:24-29).

Đức Chúa Trời tạo dựng nên sự sống. Sự chết xuất hiện khi người đàn ông đầu tiên, A-đam, cùng vợ mình là Ê-va phản nghịch lại Đức Chúa Trời và phạm tội. Rô-ma 5:12 chép:

“Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều đã phạm tội.”

ICô-rinh-tô 15:21 tiếp lời: “Vả, vì chưng bởi một người mà có sự chết, thì cũng bởi một người mà có sự sống lại của những kẻ chết.”

Nếu sự chết đến từ tội lỗi của A-đam, thì tội lỗi, sự hư hoại, sự chết đã chẳng từng tồn tại trước khi A-đam, Ê-va sa ngã. Các hóa thạch nói gì? Nó là một lời chứng của sự chết. Có thể nào chúng ta có hàng triệu năm của sự chết và “con người” hóa thạch rồi mới đến thời A-đam khi mà Kinh Thánh khẳng định rõ ràng là “bởi một người (ám chỉ A-đam) mà có sự chết” không? Các hóa thạch là di tích của sự chết. Không có sự chết sẽ chẳng thể nào có các hóa thạch. Chúng ta tin Kinh Thánh hay chúng ta tin vào những suy đoán của các khoa học gia? Các khoa học gia tin rằng sự chết bắt đầu hàng triệu năm trước khi con người tiến hóa đến như hiện nay. Kinh Thánh chép rằng sự chết bắt đầu với A-đam. 

SỰ TƯƠNG PHẢN GIỮA THUYẾT TIẾN HÓA VÀ KINH THÁNH

Là những tạo vật của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể hướng Kinh Thánh theo khoa học, chúng ta hướng khoa học vào Kinh Thánh. Điều thách thức chúng ta liệu nên tin Đức Chúa Trời và lời Ngài hay tin khoa học đã được trình bày trong quyển sách tuyệt vời, nhan đề: Sự Sụp Đổ Của Thuyết Tiến Hóa (The Collapse of Evolution) của Scott Huse, một nhà tư tưởng Cơ Đốc sáng chói. Sự mâu thuẫn giữa thuyết tiến hóa và Kinh Thánh là không thể hòa giải được. Huse đã liệt kê 24 sự tương phản giữa Kinh Thánh và tư tưởng tiến hóa:

1. Kinh Thánh: Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo của mọi vật (Sáng-thế Ký 1:1-31).
Thuyết tiến hóa: Các quá trình ngẫu nhiên trong tự nhiên có thể giải thích cho sự tồn tại của mọi thứ.

tuongphan-1

2. Kinh Thánh: Thế giới được tạo dựng trong đúng 6 ngày (1:1-31).
Thuyết tiến hóa: Thế giới tiến hóa qua các niên kỷ thật lâu dài.

3. Kinh Thánh: Sự sáng tạo đã hoàn tất (2:3
).
Thuyết tiến hóa: Các quá trình sáng tạo (creative processes) vẫn đang tiếp tục.

4. Kinh Thánh: Có đại dương trước mới tới đất liền (1:2
).
Thuyết tiến hóa: Đất liền có trước các đại dương.

5. Kinh Thánh: Khí quyển có trước hai quyển nước

Thuyết tiến hóa: Khí quyển tiếp giáp (contiguous atmosphere) và quyển nước.

6. Kinh Thánh: Sự sống đầu tiên ở trên cạn (
1:11).
Thuyết tiến hóa: Sự sống bắt đầu trong các đại dương.

7. Kinh Thánh: Sự sống đầu tiên là các thực vật (1:11
).
Thuyết tiến hóa: Các sinh vật biển tiến hóa trước.

8. Kinh Thánh: Trái đất có trước mặt trời và các ngôi sao (1:14-19
).
Thuyết tiến hóa: Mặt trời, các ngôi sao rồi mới có trái đất.

9. Kinh Thánh: Cây ăn trái có trước các loài cá (1:11
).
Thuyết tiến hóa: Các loài cá có trước cây ăn trái.

10. Kinh Thánh: Tất cả các ngôi sao được sáng tạo vào ngày thứ tư (1:16)
.
Thuyết tiến hóa: Các ngôi sao xuất hiện vào nhiều thời điểm khác nhau.

11. Kinh Thánh: Chim và cá được tạo dựng trong ngày thứ năm (1:20-21
).
Thuyết tiến hóa: Các loài cá tiến hóa hàng trăm triệu năm trước khi các loài chim xuất hiện.

12. Kinh Thánh: Các loài chim có trước các loài côn trùng (1:20-21
).
Thuyết tiến hóa: Các loài côn trùng có trước các loài chim.

13. Kinh Thánh: Các loài cá lớn (whales) có trước các loài bò sát (1:20-31
).
Thuyết tiến hóa: Các loài bò sát có trước các loài cá lớn.

14. Kinh Thánh: Các loài chim có trước các loài bò sát (1:20-31
).
Thuyết tiến hóa: Các loài bò sát có trước các loài chim.

15. Kinh Thánh: Loài người có trước mưa (2:5)
.
Thuyết tiến hóa: Mưa có trước loài người.

16. Kinh Thánh: Đàn ông có trước đàn bà (2:21-22
).
Thuyết tiến hóa: Đàn bà có trước đàn ông (theo di truyền học).

17. Kinh Thánh: Sự sáng có trước mặt trời (1:3-19
).
Thuyết tiến hóa: Mặt trời có trước, rồi mới có ánh sáng.

18. Kinh Thánh: Cây cỏ có trước mặt trời (1:11-19
).
Thuyết tiến hóa: Mặt trời có trước các loài cây.

19. Kinh Thánh: Sự phong phú và đa dạng của các dạng sống dưới đại dương xuất hiện cùng một lúc (1:20-21
).
Thuyết tiến hóa: Sự sống dưới biển dần dần phát triển từ một tổ chức sống hình giọt nguyên thủy (primitive organic blob).

20. Kinh Thánh: Thân thể loài người từ bụi đất (2:7
).
Thuyết tiến hóa: Loài người tiến hóa từ loài khỉ.

21. Kinh Thánh: Loài người quản trị mọi tổ chức sống (1:28
).
Thuyết tiến hóa: Hầu hết các tổ chức sống đã tuyệt chủng trước khi con người xuất hiện.

22. Kinh Thánh: Loài người khởi thủy chỉ ăn cây trái (thực vật) (
1:29).
Thuyết tiến hóa: Loài người khởi thủy là một động vật ăn thịt.

23. Kinh Thánh: Các loài cố định và phân biệt (fixed and distinct kinds) (1:11, 12, 21, 24, 25; ICô-rinh-tô 15:38-39) . Thuyết tiến hóa: Các dạng sống đang trong tình trạng biến động liên tục (continual state of flux).

24. Kinh Thánh: Tội lỗi con người gây nên sự chết (Rô-ma 5:12). Thuyết tiến hóa: Sự đấu tranh và sự chết tồn tại rất lâu trước sự tiến hóa của con người.

“Thêm vào những sự đối lập trực tiếp này, còn có nhiều khác biệt rõ rệt trong quan điểm giữa tiến hóa vô thần và Thánh Kinh Cơ Đốc. Đức Chúa Jêsus phán:

“Cây tốt chẳng sanh được trái xấu, mà cây xấu cũng chẳng sanh được trái tốt ” (Ma-thi-ơ 7:18).

“Kết quả của thuyết tiến hóa là một loạt các hệ thống niềm tin và việc làm (system of belief and practice) chống Cơ Đốc giáo. Nó đã phục vụ cho chủ nghĩa quốc xã và các chủ nghĩa vô thần khác. Nó đã đẩy mạnh sự bội đạo, thuyết vô thần, chủ nghĩa nhân đạo thế tục (secular humanism) và chủ nghĩa tự do tư tưởng (libertinism), cũng như đã hình thành một nền tảng cho chủ nghĩa đạo đức tương đối (ethical relatism), vốn đã lan rộng khắp đất nước chúng ta (nước Mỹ - ND) như một căn bệnh ung thư. Tâm trí và sức khỏe chung của loài người đã phải chịu đựng nhiều do kết quả của thứ triết học tự nhiên (naturalistic phylosophy) này.

Theo Kinh Thánh, loài người là một tạo vật có trách nhiệm. Một ngày nào đó họ sẽ phải chịu trách nhiệm cho những việc làm và những động cơ trong đời sống của mình. Nhưng khi con người được nhìn nhận như là một sản phẩm của một quá trình tiến hóa mơ hồ, không mục đích, họ có thể tự do thoát khỏi những nghĩa vụ và trách nhiệm đạo đức. Sau hết, họ chỉ là một sự tình cờ của tự nhiên, một động vật thông minh nhất” (The Colaspe of Evolution, Scott Huse, 1983, trang 122-124).

Tiến hóa hay sáng tạo: bạn không thể có cả hai! Danh sách của Scott Huse đã quá rõ ràng. Hãy xem lại số 14 chẳng hạn. Kinh Thánh chép trong Sáng-thế-ký 1:20-31 rằng các loài chim được sáng tạo vào ngày thứ năm và các loài bò sát được tạo ra vào ngày thứ sáu. Điều đó có nghĩa là các loài chim có trước các loài bò sát. Thế nhưng thuyết tiến hóa dạy rằng việc loài bò sát có trước loài chim là một sự thật. Cả hai quan điểm hoàn toàn khác nhau. Hoặc là bạn tin Kinh Thánh, hoặc là bạn tin những suy đoán của con người. Bạn sẽ quỳ mọp trước khoa học hay sẽ cung kính quỳ xuống trước Đấng Sáng Tạo của bạn? Có nhiều thứ trong đời sống hoặc trắng, hoặc đen. Chúng ta phải có sự nhất quán, đặc biệt là khi thể hiện mình là Cơ-đốc nhân, khi lựa chọn Lời của Đức Chúa Trời chứ không phải những suy đoán sai lầm của loài người.

Bạn không thể là một người theo thuyết tiến hóa mà vẫn tin Kinh Thánh là thật. Một từ rất rõ ràng trong Kinh Thánh đó là “Đức Chúa Trời dựng nên.” Thế cho nên, sự tiến hóa từ một phân tử đến con người là một giả thuyết sai lầm của con người. Walter Brown đã đưa ra 57 khác biệt không thể hòa hợp giữa Kinh Thánh và thuyết tiến hóa “hữu thần” (theistic evolution) trong quyển sách của mình, “Ban đầu, Tâm Điểm cho Sự Sáng Tạo Khoa Học” (In the Beginning, the Center for Scientific Creation).

TIẾN HÓA VI MÔ VÀ TIẾN HÓA VĨ MÔ (MICRO AND MACRO EVOLUTION)

Khi nói về sự tiến hóa như một suy đoán sai lầm, chúng ta có ý nói đến sự tiến hóa từ một tế bào trở thành một con người. Cái mà các nhà khoa học gọi là tiến hóa vi mô (micro evolution) thật sự có xảy ra. Tiến hóa vi mô về căn bản là sự đa dạng về gien trong một loài sinh vật nào đó. Chẳng hạn, mọi người đều khác biệt nhau cho dù họ có cùng một hệ cha mẹ (set of parents) nào đó. Làm thế nào gần 6 tỉ người lại khác nhau rất rõ rệt về dáng vẻ bề ngoài, về năng lực nếu chúng ta có nguồn gốc từ cùng một hệ cha mẹ? Đây là sự đa dạng về gen, sự thích nghi hay sự biến đổi về gien (genetic variation), hay có lẽ là sự sai lệch về gen. Sự đột biến, tức là một cái gì đó trở thành một cái gì khác hơn do sự thay đổi của gen, không phải là sự tiến hóa thật (như thuyết tiến hóa đề ra, từ phân tử đến người - ND). Các chủng loại khác nhau của cây bắp, của loài chó, của cây mù tạt vẫn được kể là bắp, chó, và mù tạt. Có bắp nổ (popcorn), bắp rang đường (sweet corn), và bắp trái ngoài đồng (field corn); chó săn, chó xù, và chó chăn cừu; cũng như rất nhiều loại mù tạt. Điều này không chứng thực sự tiến hóa. Nó chỉ cho thấy những sự khác biệt về gien trong họ nhà bắp, chó và mù tạt mà thôi.

CÁC GIỐNG NGƯỜI KHÁC NHAU

Làm thế nào một người theo thuyết sáng tạo có thể giải thích về những chủng tộc khác nhau của loài người? Biến cố Tháp Ba-bên trong Sáng-thế ký 11 cho chúng ta câu trả lời:

“Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.Người này nói với người kia rằng: ‘Hè! Chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa.’ Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ. Lại nói rằng: ‘Nào! Chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời, ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.’ Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên. Đức Giê-hô-va phán rằng: ‘Này, chỉ có một thứ dân,cùng đồng một thứ tiếng, và kia kìa công việc chúng nó đương khởi làm, bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được. Thôi! Chúng ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người này với người kia.’ Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây, Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất ” (Sáng thế ký 11:1-9).

Ban đầu, mọi người đều nói cùng một thứ tiếng. Thế cho nên họ rất dễ dàng trao đổi những tài nguyên trí tuệ với nhau, vì ai cũng có thể nói chuyện với bất kỳ ai. Kết quả là chẳng có gì là “không thể” đối với họ hay “ngăn” họ (11:6). Họ đã lựa chọn sự bội phản lại mạng lệnh của Đức Chúa Trời để rồi phải bị phân tán khắp nơi trên đất (9:11), một sự bội phản mà kết quả là Đức Chúa Trời đã làm ra nhiều thứ tiếng giữa vòng họ. Chỉ có một số ít người có thể trao đổi với nhau và họ đã hình thành nên nhiều nhóm, và điều này giải thích cho thời kỳ của những “người hang động” vì những giới hạn của ngôn ngữ và sự hỗn loạn của “thời kỳ phân tán” chắc chắn đã tạo nên những nhóm người nguyên thủy rất biệt lập. Những giới hạn về ngôn ngữ buộc họ phải phân tán khắp trái đất và sinh sản với những người bà con thân thuộc (in-breed with relatives). Một số chủng tộc loài người đã xuất hiện sau vài thế hệ của việc lai cùng dòng (inbreeding - sanh sản từ sự giao phối với những người có quan hệ thân thuộc gần gũi - ND). (Đức Chúa Trời đã tuyên bố sự lai cùng dòng là tội trong luật Môi-se. Ca-in và Sết lấy vợ trong vòng chị em mình, nhưng điều này chưa phải là tội cho đến khi ban bố luật pháp. Xem trong Lê-vi ký 18 trích dẫn bên dưới.)

“Vậy, hãy giữ luật pháp và mạng lịnh ta, người nào làm theo, thì sẽ nhờ nó mà được sống: Ta là Đức Giê-hô-va. Chớ một ai trong vòng các ngươi đến gần cùng người nữ bà con mình đặng cấu hiệp: Ta là Đức Giê-hô-va. Chớ cấu hiệp cùng cha mẹ mình, bằng cấu hiệp, tất làm nhục cho cha mẹ. Chớ cấu hiệp cùng kế mẫu, bằng cấu hiệp ấy làm nhục cho cha mình. Chớ cấu hiệp cùng chị em mình, hoặc một cha khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha, hoặc sanh tại trong nhà, hoặc sanh ở ngoài. Chớ cấu hiệp cùng cháu gái, hoặc cháu gái nội, hoặc cháu gái ngoại, bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho mình ” (Lê-vi ký 18:5-10).

Các khoa học gia nói với chúng ta rằng tất cả các chủng tộc trên thế giới đến từ một tổ tiên là mẹ (giống cái - single, female parent). Về điểm này, Kinh Thánh không phủ nhận “khoa học.” Các chủng tộc (sự khác biệt trong vòng “loài” người) hầu hết là kết quả của việc phân tán khắp trái đất do Đức Chúa Trời thực hiện sau biến cố Tháp Ba-bên.

NGÔN NGỮ KHÔNG BẮT ĐẦU BẰNG NHỮNG TIẾNG BẬP BẸ

Khoa nghiên cứu ngôn ngữ đã phát triển thành một chuyên ngành phức tạp. Các nhà ngôn ngữ học cho chúng ta biết rằng càng lui dần về quá khứ cổ xưa, ngôn ngữ càng phức tạp hơn. Một ngôn ngữ lâu đời hơn (“nguyên thủy hơn” - more primitive) là một ngôn ngữ phức tạp hơn nhiều. Đây là một bằng chứng mạnh mẽ chống lại thuyết tiến hóa.

Nếu tiến hóa là thật và con người thực sự tiến hóa từ những tạo vật nguyên thủy có trước, thì ngôn ngữ càng phải trở nên đơn giản hơn ngay từ những buổi đầu con người hình thành, (chứ không phức tạp như những gì người ta nói và có thể chứng minh - ND). Người tiền sử ắt hẳn phải bắt đầu sự giao tiếp bằng lời với nhau bởi các âm bập bẹ (grunts); rồi đến các âm đơn (single syllables); rồi đến những từ nhiều âm tiết (ba-na-na - trái chuối); rồi mới đến các nhóm từ trong câu (sentence fragments); và phát triển thành câu (I want banana! - Tôi muốn ăn chuối!) v.v... Những gì tìm được là điều hoàn toàn ngược lại. Những ngôn ngữ đầu tiên, như tiếng Sumerian, hết sức phức tạp đến độ chỉ có một số rất ít học giả lỗi lạc mới có thể đọc (giải mã) chúng. Biến cố Tháp Ba-bên giải thích về nguồn gốc các chủng tộc và vấn đề phức tạp của các ngôn ngữ cổ xưa. Đức Chúa Trời tạo nên ngôn ngữ ngay tức thì và hoàn toàn hoàn hảo. Thuyết tiến hóa chẳng có lời giải thích nào tốt cho sự phức tạp của những ngôn ngữ đầu tiên được biết đến.

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ từ khắp thế giới đã đưa ra những quan điểm liên quan đến vị trí địa lý của ngôn ngữ mẹ “nguyên thủy.” Các chuyên gia ngôn ngữ gọi nó là Proto-Indo-European (ngữ hệ Ấn Âu Cổ đại). Hai chuyên gia người Nga, Thomas Gamkrelidze và Vyacheslav Ivanov, đã đưa ra bằng chứng “...rằng ngữ hệ Ấn-Âu (Indo-European) có nguồn gốc từ một vùng có tên là Anatolia, hiện nay là một phần của Thổ Nhĩ Kỳ, và từ đây nó đã lan ra khắp Châu Âu cùng các tiểu lục địa khác.”

Tờ báo Tin tức Hoa kỳ và Báo Cáo Thế Giới (U.S. News and World Report) không phải là tờ đầu tiên nói rằng ngôn ngữ có thể truy nguyên về Thổ Nhĩ Kỳ. Kinh Thánh ghi lại rằng Nô-ê và gia đình sau cơn lũ đã có những khởi đầu tại Thổ Nhĩ Kỳ:

“Đến tháng bảy, ngày mười bảy, chiếc tàu tấp trên núi A-ra-rát ” (Sáng thế ký 8:4).

Các khoa học gia tìm về cội nguồn ngôn ngữ, Kinh Thánh cho biết cội nguồn đó là núi A-ra-rát ở Thổ Nhĩ Kỳ. Và họ đồng ý!

THÁP BA-BÊN VÀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CAO (HI-TECH SCIENCE)

thapbaben
Từ sự ra đời của nhiều thứ ngôn ngữ tại tháp Ba-bên, những nỗ lực của các thế hệ con cháu của thủy tổ loài người đã bị giới hạn (không còn có thể làm những điều không thể làm được) bởi chính hàng rào ngôn ngữ. Nhưng ngày nay, lần đầu tiên kể từ biến cố Tháp Ba-bên, thế hệ của chúng ta lại có chung một ngôn ngữ quốc tế - ngôn ngữ của những máy tính kỹ thuật cao. Với máy vi tính, chúng ta một lần nữa lại có thể tham gia vào những cuộc nghiên cứu và tri thức quốc tế và có thể làm những điều không thể làm được (con người lên mặt trăng, phẫu thuật ghép tim, máy bay siêu thanh Concorde, v.v...). Đức Chúa Trời đã bước vào thời gian để ngăn chặn tình huống này trong Sáng-thế ký 11. Ngài có thể làm gì trong thế hệ chúng ta khi những điều dạy dỗ của thuyết tiến hóa ngày càng thuyết phục nhiều người rằng Đức Chúa Trời chẳng cần thiết chút nào trong sự tồn tại của chúng ta? Chúng ta nhanh chóng trở thành một dân tộc tin vào dòng cuối cùng trong quyển sách của William Henley, Invictus: “Tôi làm chủ định mệnh tôi, tôi là thủ lĩnh linh hồn mình” (I am the master of my fate, I am the captain of my soul). Đây là thái độ của Ba-by-lôn kiêu ngạo, và Đấng Tạo Hóa không hài lòng.

Một tư tưởng khác cần đề cập đến trong Sáng-thế ký 11 - có thể nào người dân Ba-bên đã đang xây một cái tháp chống nước (water-proof tower) hay không? Văn tự Thánh Kinh mô tả cách dùng những viên gạch được nung rất đặc biệt và việc dùng chai (tar - một loại vật liệu chống thấm dùng trong kỹ nghệ đóng tàu - ND) thay cho hồ (vữa). Sự đoán xét bằng trận lụt từ thời Nô-ê hẳn vẫn còn in sâu trong tâm trí của những người này. Có khi nào họ đã vung nắm đấm lên trời với nguồn tài nguyên trí tuệ khi họ xây dựng một cái tháp chống nước, và nói với Đức Chúa Trời rằng, “Chúa hỡi, Ngài không thể bắt phục chúng tôi bằng nước lụt nữa đâu! Chúng tôi cả thảy sẽ trốn vào cái tháp chống nước vốn cao đến tận trời xanh này. Chúng tôi sẽ tự cứu mạng sống mình mà không cần Ngài nữa. Chúng tôi sẽ chế ngự vận mệnh mình. Chúng tôi sẽ tự lo cho sự sống của mình” không? Thái độ này thật giống Lu-xi-phe quá - “Ta sẽ lên trời, sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời ” (Ê-sai 14:13-14) - phải không? Khoa học của thời đó đã có thể thuyết phục mọi người tin rằng họ hoàn toàn có thể sống một cách thoải mái mà không cần Thượng Đế, Đấng Sáng Tạo của họ. Các khoa học gia ngày nay leo lên cái tháp ngà của mình và nói trong lòng cũng như trên giấy trắng rằng: “Không có Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể làm tốt mà không cần Ngài. Chúng ta thảy đều là thánh và tự điều khiển định mệnh mình.”

TIẾN HÓA VÀ PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC

Các khoa học gia thường tuyên bố và trình bày những bài luận đưa họ lên vị trí của thần thánh. Chúng ta có bị buộc phải tin rằng khoa học và phương pháp khoa học đã “truất phế” Đức Chúa Trời? Từ những ngày đầu tiên đi học, chúng ta được dạy rằng khoa học dựa trên những thí nghiệm cẩn thận và tư duy kỷ luật. Khoa học cho chúng ta những sự thật. Chúng ta có thể tin nó. Sau đó, chúng ta được dạy qua các chương trình truyền hình và những cuộc phỏng vấn với tiến sĩ Carl Sagan rằng, “Tiến hóa không còn là một học thuyết nữa, nó là một sự thật.” Đây không phải là phương pháp khoa học! Một người theo thuyết tiến hóa, Hy Ruchlis, đã định nghĩa phương pháp khoa học như sau: “Phương pháp khoa học là một hệ thống cơ bản những phương thức mà các khoa học gia sử dụng để tìm kiếm, nghiên cứu những kiến thức mới về vũ trụ mà chúng ta đang sống” (Discovering Scientific Method, Hy Ruchlis, 1963, trang 7).

Tuyên bố rằng tiến hóa không còn là một học thuyết, nhưng là một sự thật thì cũng chỉ là một lời tuyên bố không hơn không kém. Nó không phải là một khoa học có thể kiểm chứng được. Nó không phù hợp với định nghĩa về chính phương pháp khoa học. Ruchlis tiếp: “Trừ phi những lời dạy dỗ để làm căn cứ cho một môn nào đó được đặt trên cơ sở phương pháp khoa học, những sai lầm có thể dễ dàng được công nhận là sự thật..." Điều quan trọng nhất phải nhớ về phương pháp khoa học là nó phải dựa trên một thái độ rộng rãi, cởi mở (hay cầu tiến - open mind). Với thái độ này, một người có quyền nghi vấn về bất cứ điều gì được coi là sự thật. Một người tìm kiếm sự thật phải học biết cách đặt câu hỏi thật sâu sắc về những thứ được chấp nhận cách rộng rãi như là "sự thật hiển nhiên" (như trên, trang 7, 8).

Làm thế nào mà tiến hóa, dựa trên giải thích “khoa học” về các nguồn gốc, có thể đạt tiêu chuẩn dưới định nghĩa về phương pháp khoa học của Ruchlis? Nó chỉ đạt điểm kém mà thôi. Có lẽ nào tiến hóa là “sai lầm... dễ dàng được công nhận là sự thật”? Dĩ nhiên, những người theo thuyết tiến hóa có thái độ cởi mở không? Họ có cho phép những sinh viên của mình chất vấn về thuyết tiến hóa mà không coi đó là một “sự thật hiển nhiên” không? Trái lại, những người theo thuyết tiến hóa chỉ muốn có duy nhất một tư tưởng được trình bày trong phòng học của họ khắp thế giới. Khi một khoa học gia gương mẫu, là một người theo thuyết sáng tạo đưa ra những bằng chứng cứng rắn để minh chứng về Đấng Tạo Hóa và tạo vật của Ngài, anh/chị ấy bị kết tội là dạy về tôn giáo.

Nhưng tiến hóa từ một tế bào thành người không được dựa trên phương thức khoa học (_) và vì thế, đó là cả một hệ thống của niềm tin. Điều đó có nghĩa là nó cũng “mộ đạo” (religious) giống như niềm tin vào sự sáng tạo đặc biệt. Câu hỏi không phải là: “Liệu tiến hóa có phải là một khoa học, và sự sáng tạo là một tôn giáo không?” nhưng là: “Hệ thống niềm tin nào-sáng tạo hay tiến hóa - có bằng chứng khoa học thực sự để ủng hộ tin theo?”

David E. Green (thuộc Viện nghiên cứu Enzyme - Institute for Enzyme Research - đại học Wisconsin, Madison) và Robert F. Goldberger (Viện Sức Khỏe Quốc Gia - National Institutes of Health- Bethesda, Maryland ) đã nghiên cứu phương pháp khoa học và mối quan hệ của nó với các quá trình tiến hóa. Họ nghiên cứu quan điểm cho rằng tiến hóa vượt quá tầm với của “những giả thuyết có thể chứng thực.” Nói cách khác, nó (tiến hóa) không thể được chứng minh là sự thật hiển nhiên bằng phương pháp khoa học. Nguồn gốc sự sống của tế bào sống đầu tiên đối với khoa học mà nói là “không thể biết được.” Bất chấp điều này, những người theo thuyết tiến hóa, Green và Goldberger (_) phủ nhận sự tồn tại của bất cứ thứ gì cận vật lý (“phi vật lý” - paraphysical). Trái ngược với tư tưởng của hai nhà khoa học này, tiến hóa không phải là một khoa học, nó là một tôn giáo. Nhưng những người theo thuyết tiến hóa sùng đạo lại không sẵn lòng để cho những người tin nơi sự sáng tạo giới thiệu những quan điểm của họ trong hệ thống giáo dục công cộng. Thực ra, như tất cả chúng ta đều biết, những tòa án của nước Mỹ này (“nơi của sự tự do, bình đẳng của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội”) không để cho một quan điểm khác về nguồn gốc của con người được trình bày trong các lớp học mà không có một sự chống đối nào. Nếu sự sáng tạo quá rõ ràng là một quan điểm vô lý về niềm tin, thì một người chắc chắn sẽ hỏi tại sao nó luôn bị ngăn chặn khi đem vào trường học để dạy cho con em chúng ta. Rõ ràng là nếu tiến hóa là thật và nó dễ dàng được công nhận là có giá trị như những gì các khoa học gia đã khẳng định, thì chắc chắn sẽ không có gì phải lo lắng trước quan điểm sáng tạo.

Thật thú vị khi thấy rằng một con số đang gia tăng các khoa học gia theo thuyết tiến hóa đang nhận ra rằng có một sự thiếu hụt khổng lồ về các bằng chứng khoa học để chứng minh kiểu tiến hóa từ phân tử đến người. Một sự thật day dứt là chính một người theo thuyết tiến hóa đã khẳng định: “Những người tin vào sự sáng tạo có cơ sở lý luận tốt hơn.”

CHÚA SẼ CHIẾN THẮNG

Khi một tôn giáo đang trong cuộc thi với một tôn giáo khác, tôn giáo thật sự chắc chắn sẽ chiến thắng. Thượng Đế của sự sáng tạo đã là Đấng chiến thắng từ lâu rồi. Tiến hóa có thể nổi trội hơn ở một vài điểm nho nhỏ nào đó trong những nỗ lực cùng với hệ thống thế giới này, nhưng chúng ta đừng bao giờ quên rằng Chúa chúng ta chính là Đấng phán quyết những lời cuối cùng. Đấng Tạo Hóa đã nói cho chúng ta biết mọi thứ sẽ chung kết như thế nào trong Phi-líp 2:10-11: “Hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất thảy đều quỳ xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha.”

Chúa của chúng ta, Đấng Tạo Hóa là Đấng chiến thắng! Isaac Asimov, Carl Sagan, Ernst Mayr, và Stephen Jay Gould, cũng như các giáo sư đại học hay giáo viên trường học theo thuyết tiến hóa, tất cả đều phải quỳ xuống trước Cứu Chúa và Đấng Tạo Hóa, Đức Chúa Jêsus Christ. Chính miệng của họ phải lớn tiếng nói rằng, “Jêsus Christ là Cứu Chúa,” để tôn vinh Đức Chúa Cha. Họ đã kiểm nghiệm sự sáng tạo và rồi thuận ý để tin vào một lời dối trá. Nếu họ không trở lại với Đức Chúa Jêsus bằng niềm tin đơn sơ của mình mà xưng nhận mọi sự phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời, thì họ cũng phải “quỳ” xuống và “xưng” nhận ngay tại cuộc phán xét mà không được sự giúp đỡ từ đâu cả . Họ sẽ phải đứng trước mặt Chúa , Đấng Sáng Tạo của họ mà không thể có một lời bào chữa nào. Rô-ma 1:19-23; chép rằng:

“Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được, vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa, song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại, họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng.”

Những tư tưởng tiến hóa vĩ đại nhất của thời đại này có khuynh hướng đưa con người và tạo vật lên vị trí của Đức Chúa Trời. Từ các hợp chất đến con người, về cơ bản là tương đương với nhau. Tất cả chỉ là “MỘT”! Nhưng đây là sự thông sáng hay là điều ngu xuẩn? Chúa phán: “Kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan, sự nhìn biết Đấng Thánh, đó là sự tri thức” (Châm ngôn 9:10).

Sự khôn ngoan chính là niềm tin nơi Đấng Tạo Hóa. Có sự độc nhất và có sự đa dạng trong các tạo vật của Ngài. Con người có thể trông giống như một con khỉ và ngay cả hành động cũng có thể giống như con khỉ, nhưng anh ta không thể có chung dòng máu với loài khỉ. Là một Cơ Đốc nhân, khi chúng ta không cúi xuống trước mặt Đức Chúa Trời và nhìn nhận quyền tể trị cũng như quyền phép tối cao của Ngài, chúng ta tự để cho chính mình bị tha hóa trong các thứ triết học hão huyền và những suy đoán ngu dại của thế giới này. Có phải chúng ta đã hiến mình cho việc học theo những phương cách của đời này đến nỗi chúng ta hoàn toàn thờ ơ trước những nguyên tắc của Lời Chúa? Có phải chúng ta đứng trước mặt Đấng Sáng Tạo và bị xử phạt vì cớ tin vào những lời dối trá với những sự tưởng tượng và giả định của con người hơn là vào những lẽ thật đời đời trong Kinh Thánh? Có phải chúng ta thiếu đức tin vì chúng ta đã bị lôi cuốn vào việc hướng Kinh Thánh vào khoa học (làm mọi cách để Kinh Thánh phải đúng với khoa học - ND) hơn là hướng khoa học vào Kinh Thánh? Quả thật “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người, nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết” (14:12). “Chúa ôi! Xin cất khỏi lòng chúng con sự vô tín!”

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ:

Con Nhện Vàng Đen Trong Vườn

connhen
Con nhện vàng đen (sọc vàng, sọc đen - ND) trong vườn chúng ta là một tạo vật đặc biệt của Thượng Đế, Đấng ban Thánh Kinh. Mỗi loài nhện có một kiểu mạng nhện độc nhất, và có thể rộng từ 2 đến 3 bộ (khoảng 0,7 đến 1 m) về đường kính. Tại trung tâm của mạng nhện, con nhện giăng tơ dày đặc cả một vùng, thường theo hình giống như dây kéo, hoặc đường ngoằn ngoèo theo hình chữ chi (zig-zag).

Con cái dệt một cái túi đựng trứng (egg-sac) có hình quả lê (pearl-shaped) và có đường kính khoảng 1 inch (2, 54 cm). Rồi nó treo cái túi đựng trứng ở một chỗ nào đó gần với cái mạng chính của mình.

“Loài nhện này đẻ hết các trứng trong một lần. Thường có khoảng 40 hoặc 50 trứng. Khi một cái trứng được đẻ ra, con nhện phủ lên bên ngoài nó một lớp bột. Lớp bao phủ này trông giống như phấn trên trái mận hoặc trái nho.

Các cái trứng được đưa vào trong một cái “kén” bằng tơ (silken cup) nằm ngay giữa túi trứng. Đến lượt cái kén đó được bao phủ bởi một lớp tơ “sồi” (flossy silk). Và để có thêm sự bảo vệ, con nhện cái dệt thêm một lớp tơ khác bao quanh cả cái kén và lớp tơ sồi. Lớp bao phủ ngoài cùng này được dệt rất chặt và có màu nâu.

Chẳng bao lâu sau, mấy cái trứng nở. Chúng được gọi là nhện con (spiderling). Chúng phá cái vỏ bọc để chui ra bằng một bộ phận được gọi là “răng trứng” (egg tooth). Bộ phận này sau đó biến mất” (Winter-Sleeping Wildlife, Will Baker, 1958, trang 94-96).

Con nhện vàng đen giống như một nhà máy sản xuất thu nhỏ. Nó làm nên nhiều loại mạng khác nhau bằng nhiều màu sắc khác nhau tùy vào mục đích, cũng như tạo nên chất bột bao bọc quanh trứng. Một số chỗ trong mạng của nó rất dính, được dùng để bẫy côn trùng làm thức ăn. Các phần khác thì không dính, điều này cho phép con nhện có thể dễ dàng di chuyển trên mạng mà không sập bẫy của chính mình. Làm thế nào mà tiến hóa (khách quan cộng với thời gian, cộng với sự ngẫu nhiên) giải thích khả năng phức tạp của một con nhện trong việc làm nên nhiều loại mạng khác nhau cho nhiều mục đích khác nhau ngay cả màu sắc cũng khác (thay đổi từ trắng sang nâu)? Và làm thế nào tiến hóa giải thích sự tồn tại của cái “răng trứng” trên một con nhện sơ sinh?

Khi con nhện quyết định đã đến lúc phải chuyển sang một địa bàn mới, nó có một phương cách di chuyển hết sức tài tình: “Để đi đến các nơi khác, con nhện di chuyển bằng một phương cách gọi là “khí cầu” (ballooning). Một con nhện con hay con nhện đã lớn phóng ra hàng loạt tơ. Những sợi tơ này trông giống như một “tấm thảm bay.” Nó sẽ bay lên cao nơi nào có dòng không khí ấm bay lên, và những con nhện con cũng như những con nhện đã lớn được mang lên rất cao, từ đó phân tán ra xa và rộng.

Đôi lúc nó có thể lên cao đến 14.000 - 15.000 bộ (khoảng 4.700 - 5.000 m) và đi xa hàng trăm đến hàng ngàn dặm” (như trên, trang 96).

Con nhện trải qua vài lần lột da trước khi nó hoàn toàn trưởng thành. Nếu chúng không lột bỏ lớp da của mình, thì sẽ chết. Làm thế nào một con nhện biết được điều này cho đến khi nó quá lớn so với cái vỏ bên ngoài và chết? Mấy con nhện chết thì không thể tiến hóa để có những khả năng mới được!

Lớp da bên ngoài rụng hết lông và nứt rộng ra theo một cách rất đặc biệt. Trước hết, con nhện tiêm một loại chất lỏng nào đó, gọi là “chất lỏng giúp lột vỏ” (moulting fluid) giữa lớp da bên ngoài đã cũ và lớp da mới đang phát triển bên trong. Chất lỏng đặc biệt này đến từ đâu, và làm thế nào con nhện biết cần phải làm gì với nó và khi nào thì dùng nó? Dùng chất lỏng này quá sớm hoặc quá trễ đều gây tử vong.

Cách thức lớp da cũ nứt ra rất là quan trọng. Nếu nó nứt rộng ra sai chỗ, hay nứt sai góc độ, con nhện chết ngay.

“Một khi lớp da cũ đủ lỏng, nó nứt dọc hai bên hông con nhện và ngay trước cặp mắt. Nhưng không có lằn nứt ngang nào trên thân thể con nhện cả. Lằn nứt dọc hai bên hông và lằn nứt hình chữ thập giữa hai con mắt tạo nên một cái “nắp” (flap) bằng da.

Con nhện đẩy cái nắp lên giống như con người kéo một cái cửa hầm lên. Nó cứ đẩy, cứ đẩy và đẩy cho đến khi cái nắp rơi ra phía sau phần bụng dưới. Và con nhện ngọ ngoạy bò ra” (như trên, trang 96).

Chúa - Đấng Sáng Tạo - đã thiết kế con nhện này tuyệt vời làm sao! Tạo vật bé nhỏ này phá vỡ mọi quy luật của tiến hóa bởi chính sự phức tạp đến diệu kỳ của nó. Nó cần phải có Đấng tạo nên mình với dáng vẻ cùng với mọi khả năng và những sự khác thường mà nó có. Con nhện vàng đen là một tạo vật kỳ diệu của Đức Chúa Trời - một Đấng mà không có gì là không thể (Lu-ca 1:37), và là Đấng ngày ngày bênh vực chúng ta (Rô-ma 8:34) và cũng là Đấng vì cớ quá yêu chúng ta đã ban chính Con của Ngài cho chúng ta (Giăng 3:16).

 

tiếp theo bấm trang 4 ở trên...

P4

 

NHỮNG CHUỖI MẮT XÍCH CÒN THIẾU VẪN CỨ THIẾU

chuasangtao-3
K
hi còn là một sinh viên cao đẳng, tôi bị thuyết phục rằng tiến hóa là thật và rằng theo thời gian, các khoa học gia sẽ tìm thấy những loài bị thiếu hụt (trong chuỗi tiến hóa - ND). Tôi nghĩ rằng khoa học sẽ cung cấp cho chúng ta một “chuỗi dây xích” không đứt quãng của những chứng cớ khoa học minh chứng về sự tiến hóa và mối quan hệ của tất cả mọi thứ. Nhiều khoa học gia vẫn đang trông mong bằng chứng này. Tuy nhiên, Stephen Jay Gould, giáo sư địa chất học và cổ sinh vật học tại trường đại học Harvard, tin rằng những chuỗi mắt xích đứt quãng trong những bằng chứng chứng minh tiến hóa là thật sẽ chẳng bao giờ được tìm thấy - tức là những gì chúng ta thấy trong các hóa thạch và trong những tạo vật đang sống minh chứng xác thực cho sự sáng tạo. Gould vẫn là một nhà tiến hóa, nhưng ông viết:
“Những con chim ở Massachusetts và những con bọ sau vườn nhà tôi là những thành viên rõ ràng của các giống loài được nhìn nhận theo cùng một cách bởi tất cả những nhà nghiên cứu đầy kinh nghiệm. Ý niệm về các loài này là “những loài tự nhiên” (natural kinds)... lại khớp một cách tuyệt vời với nguyên lý sáng tạo... Nhưng làm thế nào một sự phân loại của thế giới hữu cơ thành những thực thể riêng biệt có thể được chứng minh là đúng bởi lý luận tiến hóa vốn tuyên bố rằng sự thay đổi không ngừng chính là nền tảng cơ bản của tự nhiên?” (Natural History - Stephen Jay Gould, 1979, trang 18).

Tiến sĩ Gould công nhận những gì chúng ta đã thấy lại trái ngược với những gì tiến hóa “lý thuyết hóa ” (theorizes) buộc chúng ta chúng ta phải thấy. Chúng ta thấy các loài riêng biệt, các loài khác nhau rõ rệt. Trong các mẫu hóa thạch, chúng ta có con cá, con rùa, và cả con gián. Chúng hoàn toàn khác biệt nhau, chúng là những tạo vật dễ dàng nhận định. Trong cuộc sống, chúng ta cũng có thể thấy cá, thấy rùa, và thấy gián. Chúng ta có thể xác định chúng, phân biệt chúng. Không hề có chuyện nửa con cá, nửa con rùa, nửa con gián. Chúng ta không hề thấy voi mọc vây, hay cá heo tiến hóa ra cặp cánh. Các loài riêng biệt mà chúng ta thấy trong những mẫu hóa thạch và trong đời sống không phải là những loài đáng ngờ/có vấn đề (questionable). Chúng không phải là những dạng sống chuyển tiếp (trung gian - transitional) như tiến hóa đề cập. Đây là một vấn đề của những người theo thuyết tiến hóa. Nếu tiến hóa là thật, các loài vật không thể dễ dàng mà phân biệt đâu. Mỗi tạo vật sẽ rất khó phân loại, chia loại, và đặt tên, nếu tiến hóa là thật (và sự sống “vẫn đang tiến hóa”). Tiến hóa có thể không đúng, phải không? Việc mỗi loài động, thực vật đều rất dễ phân biệt (như con hươu cao cổ hay con bọ quýt, con cá hay con rùa hoặc con gián) thật sự “khớp một cách tuyệt vời với nguyên lý sáng tạo”. Sự biến đổi không ngừng trong các mẫu hóa thạch hay trong những động, thực vật đang sống không phải là “nền tảng cơ bản của tự nhiên.”

ĐỨC CHÚA TRỜI TẠO DỰNG NÊN CÁC LOÀI

Chúa nói với chúng ta rằng Ngài tạo nên mỗi loài cây, con vật tùy theo loại của chúng (Sáng thế ký 1:11, 12, 21, 24, 25). Không có gì tiến hóa từ một dạng sống thấp hơn, và hiện tại cũng chẳng có gì tiến hóa lên dạng sống cao hơn. Dưới góc độ của một người tin nơi sự sáng tạo, những gì mà chúng ta thấy trong các hóa thạch chính là những gì mà chúng ta mong muốn được thấy. Sự thiếu hụt của các dạng sống trung gian chính là lý do tại sao các nhà tiến hóa gặp phải vấn đề “chuỗi mắt xích còn thiếu,” dẫu rằng một số người phủ nhận điều này. Những chuỗi mắt xích còn thiếu vẫn cứ thiếu. Chúng hoàn toàn vắng bóng trong các hóa thạch và trong các tổ chức sống hiện đang tồn tại. Chúng sẽ chẳng bao giờ được tìm thấy. Đức Chúa Trời tạo dựng nên từng loài cây, con thú tùy theo loài, vì thế, bạn chẳng cần phải tìm kiếm “những chuỗi mắt xích còn thiếu.” 

“NHỮNG CHUỖI MẮT XÍCH CÒN THIẾU” HAY “SỢI DÂY NGUYÊN VẸN” (MISSING LINKS OR UNBROKEN TIE)

Bộ máy tuyên truyền của những nhà tiến hóa liên tục tấn công chúng ta qua TV, các tạp chí, và những tờ báo với những sự mơ hồ và những lời tuyên bố vô căn cứ ủng hộ cho thuyết tiến hóa. Một lá thư trên tờ Dallas Morning News của tiến sĩ Alvin và Joel Taurog thuộc Southwestern Medical School đã minh họa cụ thể loại tuyên truyền này như sau: “Tiến hóa sinh học tuyên bố rằng mọi tổ chức sống đều có quan hệ với nhau bởi một sợi dây phả hệ (genealogy) nguyên vẹn. Mặc dầu được đề cập đến như là một giả thuyết, tiến hóa được coi như một sự thật như bất kỳ sự thật nào khác được khoa học khám phá, giống như việc xác định quỹ đạo của các hành tinh quanh mặt trời hoặc trái đất hình cầu... Ý niệm về tiến hóa là trung tâm của sinh học và là một khối lượng đồ sộ (massive body) những bằng chứng khẳng định nguồn gốc tiến hóa của mọi loài, bao gồm cả con người. Trong khi nhiều điều vẫn còn cần phải được nghiên cứu liên quan đến cơ chế tiến hóa, sự tiến hóa của các loài được chấp nhận bởi những nhà sinh học như là một sự thật đã được chứng minh” (Tờ Dallas Morning News, số ra ngày 06/03/1987, tiến sĩ Alvin và Joel Taurog ).

Chúng ta hãy đánh giá đoạn này của tiến sĩ Taurog. Nếu “...mọi tổ chức sống đều có quan hệ với nhau bởi một sợi dây phả hệ nguyên vẹn,” thì một nhà tư tưởng tiến hóa hàng đầu, tiến sĩ Stephen Jay Gould, đã hoàn toàn sai. Gould khẳng định: “Sự thiếu vắng của bằng chứng hóa thạch minh chứng cho những giai đoạn trung gian giữa những sự chuyển đổi chính yếu trong việc hình thành tổ chức sống, thực chất là sự bất lực của chúng ta, ngay cả trong trí tưởng tượng, để vẽ lên những chức năng trung gian trong nhiều trường hợp, đã là một vấn đề dai dẳng và đau đầu cho quan điểm tiến hóa dần dần của tiến hóa” (Is a New and General Theory of Evolution Emerging , Stephen Jay Gould, 1980, trang 127).

“Tiến hóa dần dần” (gradualistic evolution) tức là sự tiến hóa của một tạo vật trở thành một tạo vật khác phức tạp, tinh vi hơn nhiều qua một khoảng thời gian dài. Một loài dần dần sẽ biến thành loài khác nếu có đủ thời gian. Sự tiến hóa dần dần, nếu là thật, thì phải có bằng chứng về những dạng sống trung gian trong các hóa thạch và cả những động vật đang sống. Gould tiếp lời: “Tất cả các nhà cổ sinh học biết rằng các hóa thạch chứa đựng rất ít (precious little - không đủ để minh chứng điều gì - ND) những dữ kiện về các dạng sống trung gian; những sự chuyển đổi giữa các nhóm chính thật nhanh chóng theo tính cách đặc trưng” (The Return of Hopeful Monsters, Stephen Jay Gould, 1977, trang 24).

Điều mà Gould đang nói tức là những chuỗi mắt xích còn thiếu vẫn cứ thiếu. Không hề có các dạng sống trung gian. Không có loại thực vật hay động vật nào tiến hóa sang dạng sống cao hơn, ngay cả những hóa thạch cũng không minh chứng điều đó.

“MẶT TRỜI MỌC” HAY “TRÁI ĐẤT QUAY”

Thế thì “sợi dây nguyên vẹn” mà tiến sĩ Taurog đề cập đến là ở đâu? Họ chẳng có bằng chứng khoa học nào để chứng minh cho quan điểm của mình. Bằng chứng thì không được mơ hồ. Họ có vẻ như đã dựng nên “một hình nộm” của một người tin vào sự sáng tạo rồi nhảy sang một bên và bắt đầu đánh vào “anh ta”. Trong việc đề cập đến “sự quay của các hành tinh quanh mặt trời, hay việc trái đất hình tròn” là khoa học thật sự, liệu họ có ý ám chỉ rằng Kinh Thánh và những người tin vào sự sáng tạo tin rằng “mặt trời mọc bên trên một trái đất phẳng” không? Các tiến sĩ này dùng ngôn ngữ chính xác thế nào? Họ có nói với một bệnh nhân, “Anh có thấy mặt trời mọc thật đẹp sáng nay không?” không? Kinh Thánh dùng loại ngôn ngữ phổ biến, thông dụng. Trái đất không phẳng, một hình cầu đã được đề cập đến trong Ê-sai 40:22 “Ấy là Đấng ngự trên vòng trái đất này...” Kinh Thánh dạy rằng khi Chúa nhìn xuống quả đất, nó có hình cầu. Thi thiên 19 là phân đoạn Kinh Thánh dùng thứ ngôn ngữ bình thường và đề cập đến việc mặt trời mọc. Kinh Thánh không hề sai vì đó là cách nói hết sức bình thường, thông dụng.
traidat

Chúng ta có thể tìm thấy “một khối lượng đồ sộ những bằng chứng khẳng định nguồn gốc tiến hóa của mọi loài, bao gồm cả con người” (như tiến sĩ Taurog đề cập) ở đâu? “Khối lượng đồ sộ những bằng chứng” chứng minh sự tiến hóa của loài người không đủ lấp đầy một khoảng trống nhỏ theo tác giả Lyall Watson, một nhà tiến hóa cũng là một nhà văn: “Các hóa thạch trang trí trong cây phả hệ chúng ta quá hiếm đến độ vẫn có nhiều nhà khoa học hơn là mẫu vật.

Một sự thật đáng lưu ý là tất cả những bằng chứng vật lý chúng ta có để minh chứng về sự tiến hóa của con người vẫn có thể bị thay thế, với chỗ trống trong một cái hòm!” (Tờ Science Digest, tiến sĩ Lyall Watson, bài “The Water People ,” số 90, tháng 05/1982, trang 44).

Tiến sĩ Alvin và Joel Taurog nói tiếp: “Khi tôn giáo và khoa học đối lập nhau, đó thường là trong lĩnh vực niềm tin... Niềm tin khoa học được đặt cơ bản trên những bằng chứng được công nhận bởi các khảo cứu, thí nghiệm và sự tiên đoán; không phải niềm tin tôn giáo, cũng không phải bất kỳ hệ thống niềm tin nào khác, đã hướng vào những điều ép buộc (constraints) này” (như trên, tiến sĩ Alvin và Joel Taurog, tháng 06/1987).

Thật rõ ràng là tiến sĩ Taurog tin rằng sự tiến hóa từ phân tử đến người là một khoa học và vì thế có thể được công nhận bằng phương pháp khoa học. Khoa học về sự sáng tạo hẳn là một tôn giáo trong quan điểm của họ. Họ thêm rằng: “Mối quan hệ giữa các tổ chức sống, từ vi khuẩn cho đến con người chưa bao giờ được thấy rõ như bây giờ...” Những điều mà các tiến sĩ này đề cập đến thật chẳng rõ ràng và chính xác tí nào, nhưng từ dạng sống nhỏ nhất đến lớn nhất, từ dạng sống đơn giản nhất đến phức tạp nhất, hoàn toàn chẳng có bằng chứng khoa học nào để chứng minh chúng (nhỏ tới lớn, đơn giản tới phức tạp) có liên quan với nhau ở các đời tổ tiên cũng như các đời con cháu. Trong quyển: Lịch Sử Tự Nhiên (Natural History, trang 14) xuất bản năm 1977 có những lời của tiến sĩ Stephen Jay Glould như sau: “Sự cực kỳ hiếm của các dạng sống trung gian các trong hóa thạch vẫn còn dai dẳng như việc mua bán các bí mật trong ngành cổ sinh vật học. Cây tiến hóa trang hoàng trong các sách vở của chúng ta chỉ có cơ sở ở các đỉnh (tips), và ở các mắt (nodes) của các nhánh; phần còn lại đều do suy luận mà có, tuy hợp lý là vậy, nhưng không có một bằng chứng hóa thạch nào... Chúng ta tự cho mình là những sinh viên nghiên cứu lịch sử sự sống, nhưng để bảo vệ lợi ích danh dự của tiến hóa bằng sự lựa chọn tự nhiên (natural selection), chúng ta đã coi những dữ liệu chúng ta có là quá tệ đến nỗi chúng ta chẳng thể thấy được quá trình rất quan trọng mà chúng ta tuyên bố là mình đang nghiên cứu.”

SINH HỌC PHÂN TỬ BÁC BỎ TIẾN HÓA

Ngay cả ở cấp phân tử, bằng chứng ủng hộ tiến hóa cũng chẳng có. Trong chương 2, chúng ta thảo luận một thực tế là ở những tạo vật sống thuộc cấp tế bào có những khác biệt quan trọng giúp phân biệt giữa các nhóm thịt cơ bản (basic kinds of flesh). Chẳng hạn, các tế bào tạo thành thịt của loài chim và cá chẳng hề giống nhau. Các khoa học gia đang nghiên cứu ngay cả những thực thể còn nhỏ hơn các tế bào khi họ thí nghiệm trên các phân tử của tế bào. Lĩnh vực nghiên cứu này được gọi là sinh học phân tử (molecular biology).

Một cuốn sách mà mỗi gia đình Cơ Đốc nhân nên có (và những gia đình không phải Cơ Đốc nhân cũng vậy) là: Gấu Panda và Con Người: Câu Hỏi Trung Tâm Của Các Nguồn Gốc Sinh Học (Of Pandas and People: The Central Question of Biological Origins ). Được viết bởi những nhà sáng tạo để bổ sung vào sách sinh học ở trường trung học, trình bày quan điểm sự sống đòi hỏi phải có người sáng tạo, quyển sách này đề cập đến bằng chứng phân tử cho sự sáng tạo: “Việc nghiên cứu những vật thể sống ở cấp độ phân tử là một lĩnh vực mới có liên quan. Thông tin mà các nhà khoa học tìm thấy được từ sinh học phân tử có thể được dùng để so sánh và phân loại các tổ chức sống, một lĩnh vực được biết là ngành phân loại hóa sinh học (biochemical taxonomy). Phân tích hóa sinh học hứa hẹn sự phân loại khoa học chính xác hơn nhiều vì nó cho phép những sự khác biệt giữa các tổ chức sống khác nhau được đem ra thẩm định và đo lường ...

Những người đề xướng ý định thông minh đó thấy rằng sự tương tự trong cấu trúc cũng là một phản ánh sự tương tự trong chức năng. Tất cả các tổ chức sống cần phải tồn tại giữa vòng toàn bộ các sinh vật khác và phải thích hợp với mạng lưới sinh thái học (ecological web). Tất cả đều phải thích hợp với chuỗi thức ăn (food chain). Nhu cầu thực hiện chức năng trong vòng toàn bộ các sinh vật thông thường khác đã đặt để những đòi hỏi vật lý và hóa học lên trên mọi tổ chức sống. Cả hai vừa hợp lý và hiệu quả cho một tác nhân thông minh để thiết kế các vật sống với một nền tảng sinh hóa căn bản.

Một đóng góp ý nghĩa mới đây của sinh hóa là những phương tiện có thể xác định số liệu toán học (mathematically quantifiable) của việc xác định các lớp tổ chức sống khác nhau như thế nào. Nhưng khi một vài sự giống nhau được đặt cạnh nhau, các mẫu vật đó làm nổi bật những mâu thuẫn trong tất cả các giả định dựa trên thuyết tiến hóa” (Percival Davis and Dean H. Kenyon, 1989, trang 34-36).

Các loài động vật mà những nhà tiến hóa luôn tin rằng có quan hệ gần gũi với nhau trong chuỗi tiến hóa bây giờ được biết đến như là những loài chẳng có liên hệ gì với nhau khi nghiên cứu ở cấp độ phân tử. Kenyon và Davis viết tiếp: “Nói theo đúng thuật ngữ tiến hóa cổ điển, các loài lưỡng cư là các loài trung gian giữa cá và những loài động vật có xương sống cư trú trên đất liền. Nhưng, việc phân tích những amino axít của chúng chẳng hề đặt để các loài lưỡng cư vào vị trí trung gian. Điều này là đúng, bất kể với loài lưỡng cư nào mà chúng ta lựa chọn để so sánh. Dựa trên các nhóm tiến hóa (evolutionary series), chúng ta cho rằng một số loài lưỡng cư gần với cá hơn (những loài nguyên thủy - primitive species) và một số khác thì gần với loài bò sát hơn (các loài “cấp cao” - advanced species). Nhưng không phải như thế. Bất luận lựa chọn loài nào để làm căn bản cho sự so sánh, sự cách biệt giữa lưỡng cư và cá, hay giữa lưỡng cư và bò sát đều như nhau...

Tiến hóa trong sinh học phân tử đã cho chúng ta những dữ liệu mới, có thể xác định số liệu toán học trên những điểm giống nhau ở các loài sống. Nhưng những dữ liệu đó đã ủng hộ một bức tranh của thế giới sống, khẳng định một sự sáng tạo thông minh.”

Tác giả Michael Denton (Tiến Hóa: Một Giả Thuyết Trong Kỳ Khủng Hoảng- Evolution: A Theory in Crisis , 1986), một phó tiến sĩ ngành sinh học phân tử (không phải một người theo thuyết sáng tạo, theo tôi biết), tranh luận rằng tiến hóa từ một tế bào thành người không được thể hiện ở cấp phân tử. Sau khi quan sát các phân tử để tìm bằng chứng cho “những chuỗi mắt xích còn thiếu” giữa các lớp tạo vật khác nhau, Denton viết (trang 286): “Hoàn toàn vắng bóng các lớp trung gian, và vì thế không có một loài nào trong các nhóm được đưa ra, bởi những nhà sinh học tiến hóa, như là bằng chứng cho các loài trung gian cho dù chỉ có một chút dấu vết nhỏ về một đặc tính giả định truyền thống.”

Dĩ nhiên, nếu không có bằng chứng cho mối quan hệ tiến hóa ở cấp phân tử, vốn là nền tảng cấu thành tự nhiên, thì tư tưởng tiến hóa về enzyme, protein, chất nguyên sinh (plasma) và các mô đều hoàn toàn vô lý. Kinh Thánh chép:

“Vì Đức Giê-hô-va, là Đấng đã dựng nên các từng trời, tức là Đức Chúa Trời đã tạo thành đất và làm ra nó, đã lập nó cho bền vững, chẳng phải dựng nên là trống không, bèn đã làm nên để dân ở phán như vầy: ‘Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác!... Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác! Chẳng có Đức Chúa Trời nào khác là công bình và là Cứu Chúa ngoài ta” (Ê-sai 45:18, 21).

Tiến sĩ Vincent Sarich, một nhà tiến hóa và cũng là giáo sư trường đại học California tại Berkeley, đã tiến hành một loạt các nghiên cứu ở cấp phân tử trên sự tiến hóa của con người. Đầu tiên, các nghiên cứu của ông bị khinh thường bởi chính những đồng nghiệp của mình. Ông đã cả gan công bố năm 1967 rằng Ramapithecus (được Elwyn Simons và David Pilbeam tuyên bố là những tổ tiên đầu tiên của con người) không có dính dáng gì đến nguồn gốc tổ tiên loài người, nhưng có lẽ là một tổ tiên của con đười ươi.

“Năm 1967, Sarich và một người bạn, Allan Wilson, đang so sánh các protein máu của con người, con tinh tinh và khỉ đột - thấy rằng chúng giống nhau đáng kể. Sau khi phân tích những sự khác nhau không đáng kể, họ quyết định rằng những tổ tiên của loài người ắt hẳn đã phân rẽ từ các loài khỉ giả nhân (khỉ không đuôi - ape) Châu Phi chỉ khoảng 5 triệu năm trước, thay vì 20 đến 30 triệu năm mà các hóa thạch có vẻ công nhận.

Kết luận của họ được nhiều nhà cổ sinh vật học đánh giá như là dị giáo. Thật chẳng tốt lành gì khi Sarich và Wilson không thừa nhận sự ước lượng thông thường về tuổi của dòng giống loài người. Tệ hơn nữa, họ đang làm việc đó với các ống nghiệm và hóa sinh học - tất cả ngoại trừ các hóa thạch vốn làm nền tảng cho lý thuyết tiến hóa. Hầu hết các chuyên gia khi đó tin rằng con người có thể truy về cội nguồn thủy tổ của mình, là một tạo vật được gọi là Ramapithecus, khoảng 14 triệu năm tuổi, và nhà cổ sinh vật học Elwyn Simons, rồi David Pilbeam, đã nói cho nhiều đồng nghiệp của ông ta rằng công việc của Sarich và Wilson là “không thể tin được.”

Thời đại đã thay đổi. Trong khi Simons vẫn nghĩ Ramapithecus có thể là thủy tổ của loài người, ông có một bạn đồng hành nhỏ. Các hóa thạch mới khám phá được đã thuyết phục nhiều chuyên gia rằng con vật có liên quan tổ tiên đến con đười ươi” (Preaching the Molecular Gospel - Kevin McKean, 1983, trang 34).

Nghiên cứu phân tử đã đánh bại những tổ tiên giả định của loài người, từng cái, từng cái một.

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA ĐẤNG TẠO HÓA

Con Thằn Lằn Và Lỗ Tai Người

conthanlan
Hai kỳ công này trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời được đề cập đến không chỉ để minh chứng sự thiết kế kì lạ trong tạo vật của Ngài mà cũng để làm bạn quen với loại thông tin bạn có thể nhặt được từ một tạp chí sáng tạo, Creation Ex Nihilo. Những điều dưới đây là các bài báo trong tạp chí Creation Ex Nihilo số 14, quý 4, tháng 9 đến 12 năm 1992 (do Creation Science Foundation xuất bản), của Robert Kofahl và Tom Wagner. Tôi tưởng rằng mỗi gia đình nên có tờ Creation Ex Nihilo!

Tiến sĩ Robert Kofahl nói với chúng ta về con thằn lằn trên trang 6 như sau:

Con thằn lằn trên trần nhà bạn

“Con thằn lằn có thể chạy qua trần nhà của bạn trong tư thế chổng đầu xuống đất, bốn chân lên trời mà vẫn không bị rơi. Làm thế nào nó làm được điều này?

Cho tới vài năm trước, các khoa học gia vẫn chưa biết, dầu họ đã đề ra vài giả thuyết đối lập nhau. Xem xét gan bàn chân con thằn lằn dưới kính hiển vi quang học với độ phóng to 2000 lần đã cho thấy hàng ngàn những sợi nhỏ (little fibres) được xếp giống như những chùm lông cứng trên một bàn chải đánh răng. Nhưng câu hỏi vẫn chưa được giải đáp. Câu trả lời cuối cùng cũng xuất hiện khi quan sát nó dưới kính hiển vi điện tử, vốn có thể phóng đại tới 35.000 lần và hơn nữa.

Người ta khám phá được gì?

Con thằn lằn có dưới gan bàn chân mình hàng triệu sợi nhỏ, ngoài đầu có những giác hút (suction cups) nhỏ, mỗi cái có đường kính khoảng 8 phần triệu (8/1.000.000) inch. Kết hợp với điều này, chân con thằn lằn được tạo nên thế nào đó mà các đầu ngón chân uốn cong hay cuộn về phía trên để nó có thể tách dần dần những giác hút ra khỏi mặt phẳng mỗi bước đi và giúp cho nó không bị dính quá chặt trên bề mặt. Người ta ước chừng con thằn lằn có khoảng 500 triệu giác hút như thế trên những ngón chân.

Cấu trúc nhỏ bé khác thường của gan bàn chân con thằn lằn đã minh chứng rõ ràng cho sự sáng tạo thông minh và có mục đích. Không thể có những lý giải xa xôi, hợp lý về nguồn gốc của những giác hút dưới chân con thằn lằn bằng sự tình cờ và sự chọn lọc tự nhiên như các nhà tiến hóa đã đề ra. Và cho dù có một khoa học gia nào đó, với một trí tưởng tượng thông minh, đã thành công trong việc lập ra những ý tưởng đó, thì anh ta cũng chẳng có lấy một mẫu hóa thạch nhỏ nào để minh chứng rằng quá trình quyết định của tiến hóa đã thực sự diễn ra trong quá khứ.

Với con mắt tầm thường, bạn không thể trông thấy những cái giác hút dưới chân con thằn lằn. Nhưng mỗi đỉnh hình quân hàm chữ V (chevron-shaped ridge) trên gan bàn chân đáng ngạc nhiên của con thằn lằn là sự sắp xếp của hàng triệu sợi dây nhỏ có những cái giác hút ở đằng đầu. Điều này cho phép nó có thể chạy, bước ngang qua trần nhà bạn, hay chạy trên tường trong tư thế lộn ngược.”

Với một bằng chứng đáng kinh ngạc như thế về một Đấng Sáng Tạo, làm thế nào mà người ta có thể nghi ngờ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời?

Trong cùng số báo đó, Tom Wagner viết ở mục “Đôi điều suy nghĩ” (Think Spot), liệt kê chi tiết những gì liên quan đến lỗ tai con người (trang 13):

lotai

Việc bạn nghe được: Một bằng chứng cho sự sáng tạo của Đức Chúa Trời .

“Xem xét kích cỡ của mọi thứ đã được tạo dựng có thể là một công cụ rất hữu ích trong việc thấu hiểu sự vĩ đại của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, hãy xem xét kỹ năng sáng tạo của Đấng Tạo Hóa qua việc nghiên cứu lỗ tai con người. Khả năng nhận biết âm thanh của tai chúng ta còn lớn hơn nhiều so với những đòi hỏi tối thiểu cho việc sống sót nếu con người đã tiến hóa.”

Trong một quyển sách của David Lipscomb xuất bản năm 1988, Hearing Consevation in Industry, Schools, and the Military , trang 303 viết rằng:

“Lỗ tai có khả năng cảm giác sự tác động của âm thanh với một áp suất tác động vào màng nhĩ không quá 2 phần 10.000 (2/10.000) của 1 phần 1.000.000 (1/1.000.000) khí áp. Áp suất này làm chuyển động màng nhĩ khoảng 1 phần 100 triệu (1/100.000.000) inch. Khoảng cách đó tương đương với 1/100 độ rộng của một phân tử hy-dro, phân tử nhỏ nhất trong số tất cả các phân tử được biết đến. Vì thế, trong quá trình hoạt động, biên độ dao động của lỗ tai là những khoảng cách nhỏ hơn cả độ rộng của một phân tử nhỏ nhất.”

Để dễ dàng nắm bắt sự nhạy cảm vô cùng kỳ diệu mà Lipscomb mô tả, hãy tưởng tượng cũng giống như một người cao 6 bộ (2 m) đang đứng trên bề mặt trái đất, bây giờ thu nhỏ anh ta lại còn 1/100.000.000 inch. Theo tỉ lệ đó, chúng ta cũng thu nhỏ trái đất lại - nhưng so với người đàn ông khi đó, trái đất vẫn to hơn gấp hàng tỉ lần - thì nó sẽ chỉ còn là một hạt nhỏ xíu, không to hơn chữ “o” thường trên trang sách này đâu! Người đàn ông sẽ trở nên vô hình, ngay cả dưới những kính hiển vi điện tử mạnh nhất ngày nay.

Đưa ra ví dụ này, một người có thể bắt đầu nhìn nhận đường lối của Đức Chúa Trời đã sáng tạo nên những thứ nhỏ bé đến không thể hiểu được, cũng như những thứ lớn không thể tưởng tượng được trong cõi vũ trụ này. Nó cũng giúp chúng ta nhìn thấy phép lạ trong sự nghe mà Đấng Tạo Hóa đã vui ban cho chúng ta. Một điều gì đó mà chúng ta phải tạ ơn Ngài. Sau hết, “đức tin đến bởi sự người ta nghe...”

Thế thì hãy tạ ơn Chúa vì những gì Ngài đã làm!

 

tiếp theo bấm trang 5 ở trên...

P5

 

ĐƯỜI ƯƠI, KHỈ VÀ NGƯỜI

chuasangtao-8
K
hi nghiên cứu ở cấp phân tử, tế bào, hay xương hóa thạch, những tổ tiên tiến hóa của con người (người vượn, hay giả nhân) đã không xuất hiện. Bất chấp điều này, nhiều cố gắng phức tạp đã được thực hiện để “chứng minh” rằng con người tiến hóa từ những động vật linh trưởng (các động vật giống khỉ).

Cuối thập kỷ 60 và đầu 70, nhiều cộng đồng khoa học đã xem Ramapithecus (một động vật giống khỉ) thuộc tổ tiên của loài đười ươi, hay khỉ không đuôi, thay vì vị trí khởi nguyên của nó là tổ tiên của loài người. Khi đề cập đến Ramapithecus vào năm 1973, Alan Walker và Peter Andrews viết về những điều họ tin rằng hàm Ramapithecus chính là hàm của một con vượn hình người chính cống (tạp chí Tự nhiên (Nature), số 244, 1973, trang 313).

Nhưng đến 1982, con trai của Louis và May Leakey, một người tiên phong nổi tiếng thế giới trong việc nghiên cứu “người tiền sử” đã khẳng định: “Chủng loại Ramapithecus được người ta cho là một nhóm mà từ đó các tổ tiên của chúng ta đã tiến hóa” (Human Origins , Richard E. Leakey, 1982, trang 20).

NGƯỜI PILTDOWN

Nếu Ramapithecus xuất hiện trong các sách giáo khoa tại các trường học và đại học như là một phần sự tiến hóa của con người, nó có thể bị đào thải cũng như người Piltdown. Các răng của Piltdown đã được mài giũa và xương đã được làm cho biến màu để trông có vẻ như cổ xưa lắm.

14 năm sau khi người Piltdown bị cộng đồng khoa học tiến hóa phơi trần hoàn toàn là một thứ giả mạo, và là một trò đùa tồi tệ, Nhà xuất bản đại học Harvard đã viết những lời này (đoạn trích này hơi dài, nhưng tôi đưa nó vào để cho thấy cộng đồng khoa học tiến hóa đã đi xa bao nhiêu để ủng hộ những lời tuyên bố không thể xác minh được ngay cả nhiều năm sau khi một trong những “chứng cứ” của họ đã bị chứng thực là một âm mưu lường gạt cỡ bự):

“Eoathropus không giống như các hóa thạch người khác, người ta biết đến nó như một cái sọ chắp vá rời rạc và nửa bên phải của phần hàm dưới với hai cái răng, răng hàm thứ nhất và thứ hai. Các mẫu vật do ông William Dawson tìm được từ một cái khe nhỏ cạnh bên đường tại Piltdown, Sussex, Anh quốc, và được ông Arthur Smith Woodward thẩm định. Thật khó mà xác định được tuổi của chúng, vì các mảnh vỡ mang đặc điểm hòa lẫn những đặc điểm của các loài động vật có vú thuộc kỷ Pliocene và kỷ Pleistoncen trong vùng đá sỏi quanh bờ sông. Nếu cùng thời với hầu hết người cận đại, người Piltdown có lẽ không mới hơn thời kỳ gian băng thứ ba, kể từ Hippopotamus (loài hà mã) và các loài động vật cận nhiệt đới khác cùng xuất hiện với nó.

Cái sọ quá rời rạc đến nỗi những người nghiên cứu nó đã không thể đồng ý về một sự tái tạo hoàn chỉnh nào cả: ước chừng sức chứa hộp sọ vào khoảng 1079cc đến 1500cc và một con số trung bình khoảng 1300cc cuối cùng đã được lưu tâm tới. Nó không thuộc về loại người Neanderthal, nhưng có trán cao giống người hiện đại. Bên cạnh các xương đặc biệt dày, nó không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, phần hàm lại được thừa nhận là giống hàm của một con tinh tinh hơn là của bất kỳ giống người nào, dù còn sống hay đã tuyệt chủng. Điều này được tìm thấy trong bảng mô tả đầu tiên. Hai răng trông giống răng hàm của người, nhưng phần còn lại của phần hàm lại dư quá nhiều khoảng trống để những cái răng bình thường có thể lắp vào. Từ đó, trong việc phục hồi phần phía trước, Smith Woodward đã làm cho răng nanh lớn lên, giống như của con tinh tinh, và có một khoảng trống nhỏ (diastema). Việc sửa chữa quan điểm của ông đã được thực hiện theo cách rất đáng chú ý một năm sau khi công bố, khi Dawson và Cha Teilhard de Chardin, người đang sàng lại đống đá sỏi nơi mà cái hàm được tìm thấy, phát hiện một răng nanh lớn. Nó lớn hơn răng nanh của một người đến 2 lần và gần như hoàn toàn giống răng nanh của một con tinh tinh hiện đại. Sự kết hợp này đối với nhiều người giờ đây đã trở nên rất không bình thường, thế là cái hàm được coi là có nguồn gốc từ một trong số những loài tinh tinh. Tuy nhiên, khám phá sau đó về một số mảnh vỡ nữa gần tại khu vực đó có vẻ như đã thuyết phục hầu hết những người quan tâm rằng cái sọ và cái hàm thuộc về nhau. Eoathoropus dawsoni (người Piltdown) khi đó đối với một số người là chuỗi mắt xích bị mất giữa con người và loài khỉ giả nhân . Phần trán cao, cạnh lông mày (hốc mắt) không quan trọng, và bộ não lớn, tất cả những đặc điểm của một con người, nhưng cái cằm lẹm lại có những răng nanh lớn của loài tinh tinh” (Prehistoric Life, Percy E. Raymond, 1969, trang 282, 283).

Thế đấy, mãi cho đến cuối 1967, Nhà xuất bản đại học Harvard đầy uy tín đến thế mà vẫn còn coi vụ lừa đảo Piltdown là một “...mắt xích còn thiếu giữa con người và loài khỉ giả nhân,” khi nó đã được chứng minh là một trò lừa từ gần 15 năm trước.

NGƯỜI NEBRASKA

Người Nebraska được biết đến từ một cái răng tìm thấy năm 1922. Đến năm 1924, hộp sọ được phát hiện và cái răng vừa khít với chỗ trống - nó là một cái răng heo! (The Origin of Species Revisted , W. R. Bird, 1991, trang 227, 228).

NGƯỜI NEANDERTHAL VÀ NGƯỜI CRO-MAGNON

Chúng ta cũng có thể thêm rằng người Neanderthal và người Cro-magnon hiện nay được xem là giống người Châu Âu bình thường. Một số trong số “những người tiền sử” này có một khoang chứa não lớn hơn người hiện đại.

Tiến sĩ Percy E. Raymond thuộc đại học Harvard đã khẳng định:

“Về dung tích thật, sức chứa hộp sọ lớn hơn của một người Châu Âu bình thường, một số hộp sọ đo được 1600cc” (Raymond, trang 281).

Donald Johanson, một trong những chuyên gia về người hóa thạch (fossil man), viết:

“...Người Neanderthal. Đây là một Homo (con người) khác. Một số người nghĩ rằng anh ta cũng cùng chủng loại như chúng ta...

Tôi xem Neanderthal chẳng có gì đặc biệt cả. Một người nghe nói về việc cho anh ta mặc một complê và cho anh ta đi xuống tàu điện ngầm. Điều này là thật; một người có thể làm được như thế, và anh ta sẽ chẳng bao giờ bị để ý. Anh ta chỉ to xương (heavier-boned) hơn giống người ngày nay chút xíu thôi, cổ xưa hơn trong một số nét ở mặt. Nhưng anh ta là một người. Não của anh ta cũng to như não người hiện đại, nhưng hình dạng thì có khác chút đỉnh. Anh ta có thể đổi tiền dưới quầy tự động và mua quà lưu niệm không? Hoàn toàn có thể chứ” (Lucy: The Beginning of Humandkind , Donald C. Johnanson và Maitland A. Edey , 1981, trang 20).

Theo nhà tiến hóa Johanson, Neanderthal không phải là người tiền sử, cũng không phải là một tổ tiên tiến hóa nào đó, nhưng giống như chúng ta, một con người hiện đại!

NGƯỜI BẮC KINH (PERKING MAN)

Người Bắc Kinh đã được phân loại như một Homo erectus. Anh ta biến mất trong suốt Thế Chiến Thứ Hai. Chẳng còn lấy một mẫu xương nhỏ của người Bắc Kinh, dầu vậy, có nhiều sách vở đã viết về những cuộc tìm kiếm “xương” liên quốc gia.

Một cuốn sách vui và đáng đọc về việc nghiên cứu người Bắc Kinh, do Christopher Janus và William Brashler viết, có tựa đề Cuộc Tìm Kiếm Người Bắc Kinh (The Search for Peking Man). Được đề cập trong cuốn sách như một trong những người giúp ích rất nhiều trong việc khám phá ra người Bắc Kinh là Teilhard De Chardin - một trong những thủ phạm lừa đảo trong vụ người Piltdown! Do đã dính líu vào vụ người Piltdown, và cũng liên quan đến vụ người Bắc Kinh, làm thế nào chúng ta có thể chắc rằng những tư liệu chúng ta có về người Bắc Kinh là đáng tin cậy?

Janus đã ghi lại toàn bộ con số những mảnh vỡ hóa thạch người Bắc Kinh trước cuộc xâm lược của Nhật Bản lên đất Trung Hoa:

“...175 mẫu vật, là những mảnh vỡ đã thu nhặt được, được dán nhãn, mô tả, chụp ảnh và phân loại” (The Search for Peking Man , Christopher Janus, 1975, trang 31).

Những cái tìm được về người Bắc Kinh:

“...5 cái sọ, khoảng 150 mảnh vỡ của hàm và răng, 9 xương đùi và các mảnh vỡ, 2 xương tay trên, một xương cổ, và một xương cổ tay” (như trên, trang 30).

Tất cả những mẫu vật này đã biến mất! Rõ ràng là các nhà khoa học tiến hóa không thể đồng ý ngay cả việc có bao nhiêu xương đại diện cho người Bắc Kinh. Johanson ghi lại:

“...5 hộp sọ, 15 mẫu nhỏ hơn của hộp sọ hay mặt, 14 hàm dưới và 152 cái răng” (như trên, trang 32).

Thế thì chẳng có bằng chứng vững chắc nào minh chứng người Bắc Kinh là tổ tiên của giống người hiện đại. Một số bức ảnh về các hộp sọ của người Bắc Kinh vẫn còn. Các hộp sọ bị bể từ phía sau và có lẽ những bộ não đã được dùng làm thức ăn cho giống người hiện đại thực sự. Thật chẳng thể nào có chuyện tổ tiên của loài người lại sống đồng thời với con người và những bộ não của ông ta được xem như một sự tinh xảo cho thế hệ con cháu, giống người hiện đại, của ông. Đầu 1957, một nhà cổ sinh vật học người pháp, tiến sĩ Marcellin Boule, cho rằng những người đã làm nên các công cụ để giết chết người Bắc Kinh chính là giống người hiện đại thật sự (Fossil Men , Marcellin Boule, 1957, trang 535).

NGƯỜI JAVA

Tiến sĩ Eugene Dubois khám phá ra một sinh vật khác trong họ Homo erectus mà ông gọi là “Người Java.” Những gì tìm được của người Java là một nắp hộp sọ (skullcap) và một cái xương chân. Vào cuối đời mình, ông Dubois công khai bác bỏ những gì mình tìm thấy. Ông tin rằng cái xương chân thuộc về giống người ngày nay và cái nắp hộp sọ là của một con khỉ giả nhân hay một con vượn. 

NGƯỜI HEIDELBERG

Người Heidelberg là một sinh vật khác thường được đề cập đến trong họ Homo erectus. Johanson viết:

“Người Heidelberg, chẳng hạn, được đặt tên là Homo Heidelbergenis. Người tìm thấy anh ta phát hiện rằng đó là một người đàn ông, vì thế thuộc về giống Homo, nhưng lại quyết định đặt anh ta ra riêng thành một loài phân biệt” (Johnanson, trang 36).

Những gì tìm được về người Heidelberg gồm có một hóa thạch đơn giản - hàm dưới và răng. Người Heidelberg là một sự tưởng tượng được xây dựng quanh một cái xương hàm!

“LUCY” VÀ AUSTRALOPITHECINES

Ngay cả Australopithecines vẫn luôn phải đặt câu hỏi. Ngôi sao của vị “tổ tiên loài người” này là “Lucy” với chiều cao 3,5 bộ của Donald Johanson. Giả sử Lucy là sinh vật đầu tiên bước đi trên hai chân thay vì bốn chân, giống như một con khỉ giả nhân thường làm (và hiện nay vẫn vậy). Lucy giống giống người hiện đại ở ba điểm (về mặt giả thuyết): đầu gối, độ dài tay chân, và xương chậu trái. Cô ta có một khớp xương đầu gối giống của người, nhưng khớp xương này được tìm thấy sâu dưới vỉa đá đến 86 m và cách xa các phần còn lại của bộ xương đến gần cả một dặm. Tuyên bố rằng khớp xương đầu gối này thuộc về một phần của một bộ xương được tìm thấy cách đó khoảng một dặm đường thì cũng hợp logic như nói rằng khúc xương đùi gà tìm thấy ở bãi đậu xe gần tiệm Gà Rán Kentucky (Kentucky Fried Chichken) vốn là cái chân của một con gà mà một phần bộ xương của nó được tìm thấy đằng sau vườn nhà bạn. Chẳng có cách nào để chứng minh khớp gối đó thuộc về bộ xương của Lucy. Johanson công bố rằng tỉ lệ độ dài tay-chân là 83,9%. Nói cách khác, xương cánh tay của cô ta dài cỡ 83,9% xương chân. Điều này sẽ đặt cô vào một vị trí giữa loài khỉ giả nhân (tay và chân có độ dài bằng nhau) và người (tay có độ dài khoảng 75% chân). Con số 83,9% xem có vẻ rất cụ thể, nhưng xương chân đã bị vỡ và rải rác ở hai ba chỗ hoặc nhiều hơn và một đầu đã bị nghiền nát. Các mảnh vỡ không khớp với nhau, thế cho nên chẳng có cách nào để đo đạc chính xác cả. Con số 83,9% xem có vẻ tốt lắm, nhưng nó chỉ là một sự suy đoán (xem Ex Nihilo, số 6, năm 1983, trang 5).

Một phần xương khác giống như của người là xương chậu trái. Phần xương này còn nguyên vẹn và được dùng để chứng minh rằng Lucy bước đi trong tư thế đứng thẳng. Vấn đề là ở chỗ phần xương đó thực sự không minh chứng cho việc đi trong tư thế đứng thẳng. Johanson tin rằng phần xương đó đã bị bóp méo bởi một số công cụ (tìm kiếm - ND). Và chưa hết, chẳng có phần xương chậu nào khác để mà so sánh với nó. Phần xương đó khi dựng đứng lên thì trông giống như Lucy đi lại trên cả bốn chân hơn!

Theo một nhà tiến hóa khác, tiến sĩ Solly Zuckerman, Australopithecus là một con khỉ giả nhân và bước đi trên bốn chân giống như con khỉ giả nhân. Zuckerman định giá cái xương chậu của họ Autralopithecines và ông đi đến kết luận rằng chân tướng của cái xương đó lại là một loại của khỉ và khỉ đầu chó. Quan sát nó từ một góc độ khác, nó “...hoàn toàn chẳng giống người, và rõ ràng là của khỉ hoặc khỉ giả nhân (_).”

Riêng với tiến sĩ Charles Oxnard, ông tin rằng Australopithecus đi lại giống như con tinh tinh hay đười ươi (trong quyển: Human Fossils: NewViews of Old Bones, 1979, trang 264). Oxnard viết:

“Bây giờ chúng ta hãy trở lại vấn đề chính yếu của chúng ta: các hóa thạch Australopithecine. Tôi sẽ không bàn nhiều đến các chi tiết về những cuộc nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện, nhưng chỉ bàn đến những thông tin...cho thấy rằng trong khi kiến thức thông thường chỉ ra rằng các mảnh vỡ Australopithecine nhìn chung giống như con người, và khi chệch hướng một chút về khỉ giả nhân Châu Phi, các nghiên cứu mới nhất cho thấy những kết luận hoàn toàn khác biệt. Những khám phá mới cho thấy rằng những mảnh vỡ hóa thạch hoàn toàn khác hẳn so với các dạng sống khác; cho dù có những điểm giống nhau với các loài đang sống, chúng cũng chỉ được nhớ đến như loài tinh tinh mà thôi” (như trên, trang 273).

Lyall Watson đã đúng. Dường như chẳng có đủ xương từ một người hóa thạch “thật,” “...để chỉ lấp đầy một cái hòm.”

NGHỆ THUẬT NHÂN CHỦNG HỌC (ANTHROPOLOGICAL ART)

nhanchunghoc

Ngay cả tranh minh họa thường được dùng để miêu tả các sinh vật này cũng đáng ngờ. Những bức tranh thuộc loại Địa Lý Quốc Gia (National Geographic) của loài khỉ hình người dần dần trở thành người cho đến cuối cùng bạn thấy một con người trên đường (tiến hóa - ND) (thường với một kiểu tóc như khỉ và một hàm râu) được gọi là nghệ thuật nhân chủng học (anthropological art).

“Thật không may, phần lớn những quan niệm của các họa sĩ lại đặt trên sự tưởng tượng, hơn là hiện vật...Nhiều công cuộc tái tạo lại là công việc của sự suy đoán mà thôi. Các khúc xương chẳng nói lên điều gì về phần cơ bao bọc xung quanh chúng, mũi, môi, hay tai. Các họa sĩ phải tạo nên một cái gì đó giữa một con khỉ giả nhân và một con người thực thụ: một mẫu vật nào được cho là lâu đời hơn thì họ sẽ làm cho nó giống như khỉ hơn...Kiểu tóc hoàn toàn là sự phỏng đoán. Sự phỏng đoán thường dẫn tới những sai lầm” (Tờ Science Digest, bài “Anthropological Art ,” số tháng 04/1981, trang 44).

Làm thế nào mà những lời như trên lại lọt vào một tờ báo tiến hóa như Science Digest? Những bức vẽ thuộc loại Địa Lý Quốc Gia đó về một người “đang tiến hóa” chỉ là sự giả định của các họa sĩ, sự tưởng tượng, và là công việc của suy đoán mà thôi. Lần cuối cùng bạn thấy một cái xương có tóc bên trên là khi nào? Hay làm thế nào mà các họa sĩ biết kiểu dáng, hay loại lỗ tai, môi nào mà đắp lên trên những mảnh vỡ của hộp sọ hay nguyên cả một hộp sọ? Chẳng có cái môi nào trên xương sọ. Như tờ Science Digest đã công nhận, đó chỉ là sự tưởng tượng của các họa sĩ, không phải là khoa học thực sự!

Mỗi khúc xương hay mẫu xương phát hiện được tận cho đến ngày nay đã được phân loại, không bởi chuyên gia này thì cũng bởi chuyên gia khác, thành khỉ giả nhân, khỉ, hay người - chứ không phải vượn người (ape-man) hay người vượn (man-ape).

CÓ PHẢI MỘT CON KHỈ THỰC SỰ LÀ MỘT CON NGƯỜI KHÔNG?

Có những sự kiện khác đáng được đề cập đến khi cố chứng minh một người có tổ tiên tiến hóa giống loài khỉ. J. W. Klotz đã liệt kê một số những khác biệt quan trọng giữa người và bộ động vật linh trưởng. Tôi đã xem xét bảng liệt kê 31 điểm khác biệt chính yếu và chọn ra 10 điểm quan trọng nhất trong quan điểm của tôi. Nếu con người tiến hóa từ bộ động vật linh trưởng, thì mọi thứ ở cột bên phải (các đặc điểm của bộ động vật linh trưởng) đã phải bằng cách nào đó tiến hóa thành những đặc điểm của người ở cột bên trái.

CON NGƯỜI BỘ ĐỘNG VẬT LINH TRƯỞNG

3. Bộ não lớn hơn 3. Bộ não nhỏ hơn
5. Ít trưởng thành hơn khi sanh ra 5. Trưởng thành nhiều hơn khi sanh ra (lớn hơn)
7. Tay ngắn hơn 7. Tay dài hơn
Đây là những khác biệt thực sự giữa người và bộ động vật linh trưởng. Chúng ta hãy xem xét ba điểm.

NGÓN CHÂN CÁI

Điều gì khiến cho ngón chân cái của loài động vật linh trưởng tiến hóa thành ngón chân cái trên bàn chân con người? Ngón chân này trên bàn chân của loài động vật linh trưởng có chức năng giống như một ngón tay cái. Với ngón chân cái giống như ngón tay cái như vậy, nó có thể bám vào cây và leo lên.

Và ngón chân cái của con người thì nằm thẳng hàng với các ngón chân khác. Trên thực tế, không có một loài động vật nào trong “gia đình tiến hóa” của con người với ngón chân cái được đặt nơi nào đó giữa “ngay phía trước” (out the front) của con người và “hướng về sau nhiều hơn và sang một bên” (more toward the rear and out the side) của loài động vật linh trưởng. Không có loài động vật đang sống cũng như động vật hóa thạch nào cho thấy rằng ngón chân cái di chuyển từ sau ra phía trước của bàn chân. Chắc hẳn quá trình chọn lọc tự nhiên sẽ đánh bẫy và tiêu diệt bất cứ con vật thuộc loài động vật linh trưởng nào đánh mất khả năng leo trèo với ngón chân cái “đang tiến hóa cao hơn” (evolving higher)! Nó sẽ nhanh chóng bị tuyệt chủng và sẽ không thể tiếp tục trong “chuỗi tiến hóa” thành con người.

VỊ TRÍ CỦA ĐẦU

Vị trí của đầu cũng rất đáng lưu ý. Đầu người được giữ thăng bằng trên đỉnh cột sống để thuận tiện cho việc đi và chạy trong tư thế thẳng đứng với hai chân. Đâu là bằng chứng cho thấy rằng những loài động vật linh trưởng bằng cách nào đó đã chuyển đầu của chúng từ vị trí ở ngay phía trước cột sống (để dễ hoạt động cả bốn chi trong việc di chuyển) lên vị trí phía trên cột sống như của con người? Làm thế nào một sinh vật hoạt động được khi đầu ở trong tư thế nửa của người, nửa của bộ động vật linh trưởng (không ở phía trên cột sống, mà cũng không ở phía trước cột sống - ND)? Rõ ràng là quá trình chọn lọc tự nhiên cũng sẽ đuổi kịp nó. Có lẽ nó sẽ bị tuyệt chủng dù chỉ mới ra đời được một thế hệ.

CÁC BÉ SƠ SINH ĐỀU KHÔNG TỰ LO LIỆU ĐƯỢC

Tiến hóa có vẻ như đảo nghịch hoàn toàn khi bạn nhìn vào khả năng sinh tồn của các bé sơ sinh và đem so với loài động vật linh trưởng. Các bé sơ sinh từ khi mới sanh cho đến nhiều tháng sau đó đều hoàn toàn không thể tự lo cho mình được (tự tìm thức ăn, đáp ứng nhu cầu cuộc sống và tăng trưởng - ND). Những con khỉ mới ra đời đã biết chạy nhảy, leo trèo lên lưng mẹ nó để được mang đi đây đó một cách rất an toàn, thành thạo. Làm thế nào những em bé sơ sinh đó đã tồn tại được? Và xác suất để cặp cha mẹ khỉ cuối cùng (đã tiến hóa gần thành loài người - ND) sanh ra một cặp song sinh khác giới (dizygotic twins - một đực một cái) vốn chẳng những không thể sống sót được như những con khỉ đầu tiên (non-ape human babies) (chưa tiến hóa - ND), mà còn không thể sinh sản ra con cháu (đực và cái) sau này để lại có thể tiếp tục sinh sản là gì? Và tại sao bây giờ chúng ta vẫn thấy có nhiều loài khỉ giả nhân và khỉ, nếu chúng đang tiến hóa thành một thứ gì khác, có lẽ ngay cả là con người? Một lần nữa, tôi có thể nhấn mạnh một sự thật rằng điều mà chúng ta thấy trong cuộc sống thực ngày hôm nay và trên những chứng cớ của lịch sử (hóa thạch - ND) là những loài động vật, thực vật và con người hoàn toàn phân biệt, xác định được; chứ không phải những dạng sống trung gian, chuyển đổi.

VẤN ĐỀ QUÁ ĐÔNG DÂN SỐ

Nếu, như những nhà tiến hóa tin tưởng, các động vật giống khỉ tiến hóa thành người khoảng 1 triệu năm trước (Lucy được cho là có 2,8 triệu năm tuổi), chúng ta sẽ phải đương đầu với tệ nạn quá đông dân số. Tiến sĩ Henry Morris đã đưa ra một vài con số thú vị trong quyển sách của ông, Vũ Trụ Học Thánh Kinh và Khoa Học Hiện Đại (Biblical Cosmology and Modern Science) xuất bản năm 1970. Giả sử cha mẹ sống đến 35 tuổi và có bốn đứa con, thì khoảng 3 tỉ người đã ra đời chỉ trong 1000 năm đầu tiên! Bạn có thể nói, “À, thế thì nhiều con quá.” Tiến sĩ Morris cho thấy những con số với một gia đình có 3 con, cũng trong điều kiện tính toán như trên. Trong khoảng 2000 năm, dân số thế giới có thể lên đến khoảng 4,5 tỉ. Với 2,5 con mỗi gia đình và kéo dài tuổi thọ mỗi thế hệ lên 43 năm, trong không hơn 4000 năm, 3 tỉ người đã sống trên đất. Nhận xét một lời, tiến sĩ Morris nói: “Quá rõ ràng một điều là chủng tộc loài người không thể quá già như thế!”

Theo tiến sĩ Morris, nếu dân số thế giới bắt đầu với hai người vào thời điểm 4300 trước, nó sẽ chỉ gia tăng với tỉ lệ 0,5% một năm để đạt tổng dân số thế giới năm 1970. Con số 0,5% này ít hơn tỉ lệ gia tăng dân số năm 1970 đến 4 lần (2%). Ít dân tộc đã công nghiệp hóa có những gia đình lớn hơn mức trung bình.

Tiến sĩ Morris khẳng định rằng con số ước đoán tốt nhất về dân số thế giới vào thời điểm của Chúa Jêsus là khoảng 200 triệu người. 2,75 con trên một gia đình, cộng với 40 năm cho một thế hệ và bắt đầu với 2 người năm 2340 trước Chúa, thì sẽ có khoảng 210 triệu người sống vào năm 1 Công Nguyên. Những con số này rất phù hợp với thời điểm Thánh Kinh.

Xem xét đến các ảnh hưởng của chiến tranh và bệnh tật đối với dân số, tiến sĩ Morris nói: “Nhưng về khả năng của những bệnh dịch lớn và chiến tranh trong quá khứ đã đóng vai trò làm chậm sự gia tăng dân số theo như tỉ lệ đã đề ra thì sao? Có thể nào dân số vẫn không thay đổi qua nhiều thời đại dài mà chỉ trong những thời điểm hiện tại nó mới bắt đầu gia tăng thì sao?

Dĩ nhiên, chúng ta không thể trả lời những câu hỏi này một cách võ đoán, vì những dữ liệu về dân số là không có giá trị trong những thời kỳ đầu tiên...

Hơn nữa, thật sự không có bằng chứng cho thấy sự gia tăng dân số đã bị làm chậm lại bởi chiến tranh hay những trận dịch lớn. Thế kỷ qua, vốn đã trải qua giai đoạn phát triển dân số lớn nhất, cũng đã chứng kiến những cuộc chiến tranh hủy diệt nhất trong lịch sử, cũng như những trận dịch và nạn đói tàn khốc nhất” (như trên, trang 76).

Tiến sĩ Morris lựa chọn dân Do Thái làm một ví dụ tốt về sự chính xác cho những tính toán dân số của ông. Dân Do Thái không có quê hương trong nhiều năm. Họ phải chịu đựng sự bắt bớ và tàn sát khủng khiếp. Morris thống kê rằng nếu một gia đình Do Thái có trung bình 2,4 con và mỗi thế hệ sống 43 năm, thì trong 3.700 năm (bắt đầu từ thời của các tổ phụ, Gia-cốp) ắt sẽ có 13.900.000 người Do Thái còn sống năm 1970.

Con người không thể nào đã từng ở đây, là con người vào 1 triệu năm về trước. Dựa vào tính toán của Morris, 1 triệu năm thì có hơn 28.600 thế hệ, vốn sẽ đưa dân số thế giới năm 1970 lên 10 lũy thừa 5000 (105000) người! Số người đó đủ để lấp đầy toàn cõi địa cầu, và chúng ta không kể đến chuột cũng như thỏ. Tiến sĩ Morris đã nói:“Quá rõ ràng một điều là chủng tộc loài người không thể quá già như thế!...Giả thuyết của các nhà tiến hóa về việc con người xuất hiện vào thời điểm 1 triệu năm về trước, hay hơn nữa trở nên hoàn toàn phi lý khi nhìn dưới góc độ phân tích và thống kê dân số” (như trên, trang 75, 77).

Nếu con người đã xuất hiện 30 triệu năm, 15 triệu năm hay chỉ 500.000 năm trước, thì phải có hàng trăm tỉ hóa thạch rải rác thành từng đống khổng lồ khắp nơi trên thế giới! Thế thì người hóa thạch đâu? Chúng ta hãy đối diện với nó - con người đã không và không thể nào xuất hiện trên đất này nhiều hơn là vài ngàn năm trước! Nếu những nghiên cứu về thống kê dân số cho thấy khoảng lịch sử ngắn ngủi của con người trên đất (khoảng vài ngàn năm), thì tiến hóa của con người trên nhiều ngàn hay nhiều triệu năm là hầu như, nếu không nói hoàn toàn, không thể xảy ra!

NGƯỜI TIỀN SỬ THẬT CHẲNG TIỀN SỬ CHÚT NÀO

Có thể nào người “tiền sử” cuối cùng lại không phải là “tiền lịch sử” không? Gióp có lẽ đã đề cập đến loại người mà các khoa học gia gọi là “người ở hang” (cavemen - người thượng cổ) khi ông viết: “Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để chung với chó của bầy chiên tôi. Sức mạnh của họ đã hư hại rồi, vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi? Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ. Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, rễ cây giếng giêng làm vật thực cho họ. Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người, người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm. Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, trong hang đất và giữa các hòn đá. Chúng tru thét giữa bụi cây, nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai. Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, họ bị đuổi ra khỏi xứ ” (Gióp 30:1-8).

Có lẽ “người ở hang” bị đuổi khỏi xã hội văn minh trong thời đại của họ. Có lẽ đây là những người có tâm trí đam mê phóng đãng do tội lỗi thường ngày của họ và sự suy đồi. Trong bất cứ biến cố gì, họ không phải là những tổ tiên của loài người. Họ sống cùng thời với con người.

Thượng Đế của Thánh Kinh phán rằng Ngài đã tạo dựng nên con người theo hình Ngài từ bụi của đất:

“Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một loài sanh linh ” (Sáng thế ký 2:7).

Đức Chúa Trời nắn hình người từ bụi đất, chứ không phải từ một sinh vật tiền sử, giống khỉ, hay giống người hay một thứ bùn nhão (ooze) nguyên thủy nào cả. Bụi đất, bởi sự thiết kế và quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, đã trở thành con người; nhưng con người vẫn chưa có sự sống cho đến khi Đức Chúa Trời hà sự sống vào con người. 2:7 đã cho thấy rõ ràng rằng sự tiến hóa của con người từ một sinh vật sống nào đấy trước đó là hoàn toàn không thật. Con người đến từ bụi đất không có sự sống, bởi sự thiết kế và quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, và con người không có sự sống cho đến khi Đức Chúa Trời truyền sự sống vào tạo vật đặc biệt này. Điều này có nghĩa là con người không thể là sản phẩm của sự tiến hóa từ một sinh vật giống khỉ sống trước đó. Con người đã được tạo dựng bởi chính Đức Chúa Trời, theo chính hình Ngài. Không thể có điều gì thỏa đáng hơn cho Cơ Đốc nhân về nguồn gốc của loài người. Chúng ta không đến từ những sinh vật giống khỉ, nhưng từ một quyền năng khôn tả, khôn lường và siêu nhiên của Đức Chúa Trời, Thượng Đế của Thánh Kinh.

NGUYÊN TẮC ANTHROPIC (ANTHROPIC PRINCIPLE)

Đức Chúa Trời đặt để con người, tạo vật tuyệt đỉnh của Ngài, trong một môi trường của những chế độ cực kỳ tinh xảo. Các khoa học gia ngày nay gọi sự cân bằng của các hệ sinh thái (nơi duy trì sự sống cho con người) là “nguyên tắc anthropic.” Để duy trì sự sống, chúng ta cần phải có đúng lượng O2, H2, CO2, ánh sáng mặt trời, từ trường, tốc độ quay và sự quay của trái đất, khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng, tần ôzon (O3), nước, trọng lực, v.v...Tất cả những nhân tố này phải có đúng liều lượng, ở đúng nơi, và đúng lúc, cũng như có tương quan chính xác với nhau. Chẳng hạn, nếu trọng lực trái đất yếu đi, khí quyển chung quanh chúng ta sẽ mỏng dần và sẽ không thể duy trì sự sống nữa. Nếu trọng lực trở nên mạnh hơn, các loại khí như ammoniac, hơi đốt, sẽ bị cô đặc hơn (concentration) và trở nên có hại cho sự sống. Có nghĩa là trái đất chúng ta đã được tạo dựng ở một kích cỡ rất chính xác, để cho ra đúng mức trọng lực giúp duy trì bầu khí quyển. Nhưng kích thước đó cũng phải đủ lớn để giữ cho mặt trăng của chúng ta vẫn ở trên quỹ đạo - cũng có nghĩa là mặt trăng phải được tạo dựng ở đúng một kích cỡ nào đó để nó không bị bắn vào không gian hoặc rơi thẳng xuống trái đất - và mặt trăng cũng phải lớn đúng kích cỡ để duy trì ảnh hưởng trên thủy triều đại dương. Chúng ta có thể cứ nói mãi về những điều này, nhưng một sự thật là tiến hóa, lời giải thích cho sự kỳ bí của vũ trụ này, đã trở nên hoàn toàn phi lý! Đức Chúa Trời, Thượng Đế của Thánh Kinh, xứng đáng được ngợi khen và chính Ngài, chỉ mình Ngài, đáng nhận sự vinh hiển và tôn kính. “Người nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí Cao, sẽ được hằng ở dưới bóng của Đấng toàn năng.” (Thi Thiên 91:1).

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Con Hươu Cao Cổ

conhuou
Chúng ta hãy xem xét một trong số những tạo vật kỳ diệu khác trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời - con hươu cao cổ. Con hươu cao cổ được tạo dựng là một động vật hoàn hảo, và độc nhất. Một con hươu cao cổ trưởng thành có thể cao đến 18 bộ (6 m). Để có thể bơm máu qua cái cần cổ dài lên đến tận đầu, con hươu cao cổ cần một cái bơm mạnh mẽ. Quả tim của nó dài khoảng 2,5 bộ (7,5 dm). Nó mạnh đến nỗi khi con vật cúi xuống để uống nước, áp lực máu có thể làm nổ tung mạch máu não.

Thuyết tiến hóa nói rằng một cái gì đó sẽ không tiến hóa cho đến khi nó thấy cần thiết . Nhưng con hươu cao cổ sẽ không biết rằng nó cần phải bảo vệ bộ não khỏi nguy cơ bị hủy hoại bởi áp lực máu cực mạnh cho đến khi nó chết đi vì xuất huyết não lúc đang uống nước. Làm thế nào nó có thể “tiến hóa” để có một cơ cấu bảo vệ, sau khi biết rằng nó cần có bộ phận đó, nếu như nó không còn sống để làm chuyện đó?

Con hươu cao cổ có một bộ phận bảo vệ được chính Đấng Tạo Hóa chúng ta tạo nên. Khi con hươu cao cổ cúi đầu xuống để uống nước, các van trong mạch máu ở cần cổ nó bắt đầu đóng lại. Máu trước cái van cuối cùng vẫn tiếp tục chảy về não. Nhưng thay vì với một tốc độ và áp lực cao làm hỏng hoặc giết chết não, cú bơm máu cuối cùng đó thay đổi hướng đi vào não qua một nhóm các mạch máu tương tự như bọt biển. Bộ não được an toàn và sức bơm mạnh mẽ của loạt máu đầy ôxy nhẹ nhàng làm phồng đám “bọt biển” bên dưới nó.

Tuy nhiên, cũng từ bộ phận bảo vệ này, một vấn đề khác phát sinh. Một con sư tử lẻn đến và chuẩn bị tóm gọn con mồi của nó. Con hươu cao cổ nhanh chóng ngẩng cao đầu lên và, không có cái gì để bù lại cho việc thiếu áp lực máu để đưa lên não, ngã ra chết. Nó ngẩng đầu lên nhanh quá, nên áp lực máu vốn đã quá yếu không thể chảy lên não được. Con sư tử ăn bữa thịt nóng còn con hươu cao cổ thì đã chết nên không thể nhận ra rằng nó cần phải tiến hóa để có một bộ phận bảo vệ tốt hơn nhằm cung cấp đủ máu cho bộ não đang thiếu ôxy của nó! Chúng ta thảy đều biết rằng động vật đã chết thì không thể tiến hóa, ngay cả việc tiến hóa đòi hỏi những sinh vật của nó phải nhận thấy rằng chúng cần có sự cải thiện trước khi sự cải thiện đó bắt đầu tiến hóa (để hình thành - ND).

Nhưng con hươu cao cổ vẫn sống! Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng nên nó theo cách mà khi nó vừa ngẩng đầu lên, các van trong mạch máu bắt đầu mở ra. Đám “bọt biển” (sponge) ép máu đầy ôxy nó chứa lên não, các tĩnh mạch chạy xuống cổ có một số van đóng lại để giúp cân bằng áp lực máu, con hươu cao cổ có thể nhanh chóng đứng thẳng lên và bắt đầu chạy mà không phải chết, thành bữa trưa cho con sư tử. Đức Chúa Trời đã tạo dựng con hươu cao cổ như vậy, với tất cả những bộ phận hoàn hảo và sẵn sàng hoạt động trong mọi tình huống khẩn cấp. Không có cách nào con hươu cao cổ có thể tiến hóa những đặc điểm đặc biệt của nó. Các bộ phận chức năng của con hươu cao cổ đòi hỏi phải được tạo dựng nên bởi chính Đấng Tạo Hóa. Tại sao Đức Chúa Trời lại không là Đấng Tạo Hóa của mọi vật?

Mọi người đồng ý, con hươu cao cổ là con hươu cao cổ. Nó là một loài hoàn toàn phân biệt, một loài không thể lẫn lộn vào đâu được. Không ai có thể nói con hươu cao cổ là một “mắt xích còn thiếu” hay một “dạng sống trung gian.” Một con hươu cao cổ không phải là một sinh vật có nguồn gốc tiến hóa từ một sinh vật nào khác, hay sẽ biến đổi sang một loài động vật “cao hơn,” phức tạp hơn - một con hươu cao cổ vẫn là một con hươu cao cổ. Khoa học thực nghiệm có thể chứng minh điều đó, và rằng sẽ có những kết quả cho thấy sự cần thiết của một hành động sáng tạo. Loài động vật cổ dài này từ ban đầu đã được tạo dựng với tất cả những đặc tính phức tạp và hoàn toàn hoạt động đúng chức năng của nó.

Con hươu cao cổ chính là bằng chứng cho sự thực hữu của Đấng Tạo Hóa!

 

tiếp theo bấm trang 6 ở trên...

P6

 

CÁC ĐIỀU RĂN VÀ NHỮNG NGÀY CỦA TUẦN LỄ SÁNG TẠO

chuasangtao-9
N
ăm 1971, hai sinh viên đã mạnh dạn và nhẹ nhàng thách thức một trong số những giáo sư của họ (tôi) để bảo vệ vị trí của ông ta về nguồn gốc của mọi thứ. Đó là một việc trông có vẻ hết sức dễ dàng vì tôi bị thuyết phục rằng có hằng hà sa số bằng chứng khoa học thật sự chứng minh cho sự tiến hóa (trên hàng tỉ năm) là thật. Năm 1972, vị giáo sư này bị ngập đầu trong sự thất vọng! Không thể nào tìm thấy được bằng chứng chứng minh cho một vũ trụ già cỗi như các nhà tiến hóa đã đưa ra và được coi là sự thật. Điều này không có ý nói rằng thiếu những tác phẩm viết về đề tài tiến hóa, nhưng rằng không có bằng chứng khoa học thật sự nào lại không dựa trên chỉ những giả thuyết (xin đối chiếu với phần đầu chương hai, “Bảy giả thuyết cơ bản”).

Vào đầu thập niên 70, đối với tôi, chuyện tiến hóa qua nhiều khoảng thời gian dài là chuyện hiển nhiên. Có thể là một ngày trong Sáng-thế ký tương đương với 1 tỉ năm thì sao? Nếu chúng ta có thể bằng cách nào đó áp đặt những khoảng thời gian dài vào Sáng-thế ký 1, tiến hóa và Kinh Thánh hoàn toàn phù hợp với nhau. Và tôi đã nghĩ như thế.

NHỮNG NGÀY 24 GIỜ HAY CÁC THỜI ĐẠI?

Những ngày trong Sáng thế ký 1:1-31 là những ngày có 24 giờ! Nếu chúng ta tin Kinh Thánh, thì không thể nào một ngày trong 1:1-31 lại tương đương với 1 tỉ năm. Ngay cả sự logic trong 10 điều răn cũng đòi hỏi những ngày-24-giờ (chắc không ai trong chúng ta khó chịu gì khi ôn lại 10 điều răn), vì thế hãy xem lại Xuất Ê-díp-tô ký 20:1-20:

“Bấy giờ, Đức Chúa Trời phán mọi lời này, rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ. Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác. Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia hoặc nơi đất thấp này, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó, vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta. Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi. Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà người, đều chớ làm công việc chi hết, vì trong sáu ngày, Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy nên Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh. Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho. Ngươi chớ giết người. Ngươi chớ phạm tội tà dâm. Ngươi chớ trộm cướp. Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận mình. Ngươi chớ tham nhà kẻ lân cận ngươi, cũng đừng tham vợ người, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa, hay là vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi. Vả, cả dân sự nghe sấm vang, tiếng kèn thổi, thấy chớp nhoáng, núi ra khói, thì run rẩy và đứng cách tận xa. Dân sự bèn nói cùng Môi-se rằng: ‘Chính mình người hãy nói cùng chúng tôi thì chúng tôi sẽ nghe, nhưng cầu xin Đức Chúa Trời chớ phán cùng, e chúng tôi phải chết chăng.’ Môi-se đáp rằng: ‘Đừng sợ chi, vì Đức Chúa Trời giáng lâm đặng thử các ngươi, hầu cho ai kính sợ Ngài ở trước mặt các ngươi, cho các ngươi không phạm tội’ ” (Xuất Ê-díp-tô ký 20:1-20).

Bạn có để ý thấy rằng tuần làm việc của con người cũng tương đương với tuần làm việc của Đức Chúa Trời không (20:9-11)? Vì thế, nếu một người làm việc sáu ngày-24-giờ, thì sự logic của 20:11đòi hỏi rằng Đức Chúa Trời cũng đã làm việc trong sáu ngày-24-giờ và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy cũng như con người nghỉ một ngày trong tuần.

Các học giả người Hê-bơ-rơ khắp thế giới đã đồng ý rằng chữ “ngày” (từ “ngày” trong tiếng Hê-bơ-rơ là “yom”) của Sáng-thế ký 1 là những ngày-24-giờ. Các học giả này có thể không cần thiết phải tin rằng Đức Chúa Trời có quyền tạo dựng nên mọi thứ trong vòng sáu ngày bình thường, hay họ có thể cũng chẳng cần phải tin rằng Kinh Thánh là Lời thánh của Đức Chúa Trời, nhưng họ tin rằng từ Hê-bơ-rơ: “yom” có nghĩa là “ngày” mà ngày này có 24 giờ. Các học giả trung lập (liberal scholars) đã cố tuyên bố rằng một tác giả nào đó thời xưa, người không biết gì về khoa học và địa chất học đã viết một bài viết ngắn về nguồn gốc con người với các khái niệm quá đơn giản. Nhiều học giả nói rằng việc những từ đó nói lên điều gì thì không quan trọng, nhưng chỉ đơn giản là ý nghĩ hay thông điệp đằng sau những ký hiệu từ (word-symbols) này mới quan trọng. Tuy nhiên, nếu điều này là thật, thì chúng ta cũng có thể quẳng hết mọi quyển từ điển tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Hy Lạp. Mỗi chữ trong Sáng-thế ký 1 đều có trong từ điển tiếng Hê-bơ-rơ. Mỗi từ đều có ý nghĩa riêng biệt, và có thể tra cứu để tìm xem ý nghĩa đó là gì. Nó không phải là những “ký hiệu từ” tối nghĩa vốn bị giới hạn bởi ý nghĩa chỉ trong chừng mực sự tưởng tượng của người đọc.

MỖI NGÀY CÓ NỬA SÁNG VÀ NỬA TỐI

Đức Chúa Trời đã dùng mỗi từ Ngài có thể dùng (để chúng ta có thể hiểu - ND) để chỉ cho chúng ta thấy việc Ngài đề cập đến một vòng quay của trái đất trước nguồn sáng của nó (mặt trời - ND) hay một ngày-24-giờ trong Sáng-thế ký 1. Ngài đã phán: “...Vậy, có buổi chiều và buổi mai ấy là ngày thứ nhất,… vậy, có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ hai ”; v.v...Mỗi ngày có một buổi tối, và một buổi sáng . Trong Sáng thế ký 1:5, Đức Chúa Trời phán, “Đức Chúa Trời đặt tên sự sáng là ngày, sự tối là đêm. Vậy, có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ nhứt.”

Mỗi ngày có một buổi sáng và một buổi tối. Điều này đánh đổ tiến hóa hữu thần và thuyết ngày-thời đại (day-age - một ngày trong Sáng-thế ký 1 tương đương với một thời đại dài - ND), vì mỗi ngày (1 tỉ năm?) chỉ có nửa sáng và nửa tối! Bạn không thể tiến hóa bất cứ gì trong 500 triệu năm bóng tối, hay với lập luận đó, trong 500 triệu năm dài đăng đẳng ngập tràn trong ánh sáng mặt trời.

Chúng ta có thể hỏi: “Thế thì A-đam bao nhiêu tuổi khi ông qua đời?” 5:5 chép rằng: “Vậy, A-đam hưởng thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời.” Nếu một ngày trong Sáng-thế ký 1 tương đương với 1 tỉ năm như thuyết tiến hóa đòi hỏi, và A-đam sống ít nhất nửa ngày thứ sáu (từ khi ông được tạo dựng - ND), hết ngày thứ bảy, rồi thêm 930 năm nữa, thế thì A-đam bao nhiêu tuổi khi qua đời? Có phải ông được 1.500.000x930 năm không? Hay ông qua đời ở tuổi 930? Bạn không thể chọn cả hai! Bạn không thể vừa lựa chọn khoảng thời gian dài (một ngày tương đương với một khoảng thời gian dài, tiến hóa hữu thần, sáng tạo diễn tiến) và Kinh Thánh. Hoặc A-đam 930 tuổi khi qua đời, hoặc bạn có thể bỏ mặc 1:1 và 5:5!

NGÀY, NĂM VÀ CÁC MÙA

Đức Chúa Trời đã dùng những từ Ngài đã có thể dùng nếu Ngài muốn chúng ta hiểu rằng những ngày trong 1:1-31 dài hơn 24 giờ. Một trong những từ Hê-bơ-rơ này là “olam.” Olam nghĩa là một khoảng thời gian dài và có thể mang nghĩa “đời đời” nữa.

Hãy xem trong 1:14: “Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm.”

Đức Chúa Trời đã phân biệt sự khác nhau giữa ngày, mùa và năm. Làm thế nào mà người ta lại có thể kéo dài một ngày trong Sáng-thế ký thành ra 1 tỉ năm, rồi lại chẳng lưu tâm gì đến 1:14? Nếu một ngày là một tỉ năm, thì một mùa hoặc một năm sẽ là bao lâu? Có phải một năm trong Kinh Thánh tương đương 365 tỉ năm (vòng quay của trái đất quanh mặt trời - ND)? Ngay cả những nhà tiến hóa cấp tiến còn tuyên bố rằng vũ trụ không già hơn 20 tỉ tuổi! Đức Chúa Trời đã sử dụng tất cả những từ chỉ thời gian này trong một câu để chứng minh cho chúng ta thấy Ngài muốn nói đến một ngày-24-giờ. Bạn sẽ không thể nào nhận thấy ý nghĩa của 1:14 nếu bạn cứ khăng khăng với thuyết tiến hóa hữu thần hay ngày-thời đại hay quan điểm sáng tạo diễn tiến (ban đầu có sự sáng tạo, sau sự sáng tạo, có sự tiến hóa - ND). (Đừng quên rằng chúng ta không hướng Kinh Thánh (“ép” Kinh Thánh - ND) theo khoa học, mà chúng ta hướng khoa học theo Kinh Thánh.) Nếu “khoa học” nói với chúng ta rằng chúng ta phải có những thời đại địa chất (geologic ages) lâu dài để giải thích sự tồn tại của mọi thứ, nhưng Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời đã làm điều đó trong 6 ngày bình thường, thì chúng ta phải tin Kinh Thánh bằng đức tin và biết rằng khoa học phải có một nghiên cứu nào đó để minh chứng cho Kinh Thánh, chứ không bác bỏ nó.

10 điều răn trong Kinh Thánh là một trong những nguyên nhân căn bản cho niềm tin trong thuyết tiến hóa. Những người luôn tuân thủ các tiêu chuẩn khoa học đã kiểm tra sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Họ đã thấy công việc do chính Chúa làm nên (Rô ma 1:1-32 và Thi Thiên 19:1-14), thế mà họ lại lựa chọn tin theo lời dối trá của thuyết tiến hóa vì họ không muốn nhìn biết tội lỗi mình, như đã được ghi trong 10 điều răn. Chấp nhận niềm tin nơi Đức Chúa Trời, Đấng viết 10 điều răn đó bằng chính ngón tay của mình, trở thành một việc không thể nghĩ ra được. Niềm tin sẽ đặt con người vào chỗ của sự tận hiến và vâng phục Đấng Sáng Tạo của mình. Hơn nữa, vị trí của sự tận hiến và vâng phục này đòi hỏi tinh thần trách nhiệm trước Thượng Đế thánh khiết và cuối cùng là sự phán xét - đây là những thực tế mà người ta không thích nghĩ đến. Chúng ta biết chúng ta là tội nhân. Chúng ta thậm chí không sống đúng theo tiêu chuẩn của chính mình, huống chi những tiêu chuẩn công bình của Chúa. Quả thật, sống trong “vùng đất ảo” (fantasy-land) của thuyết tiến hóa dễ hơn nhiều so với sống trong thực tế là chúng ta đã bị chia cách khỏi Đấng Tạo Hóa bởi chính sự bất khiết và kiêu ngạo của lòng mình. Cuộc sống dường như ít phức tạp và nhiều thoải mái hơn khi chúng ta tin nơi lời dối trá của thuyết tiến hóa.

Không một người có lý trí nào sẽ tranh cãi rằng 10 điều răn của Chúa là không thích hợp hay không chính xác, hay có hại cho xã hội. Nếu mỗi người đều vâng theo nó, chúng ta sẽ có một thế giới gần như hoàn hảo, không có tội phạm, sự phạm tội, và cũng không có ô nhiễm.

Bạn có chú ý thấy rằng tuần lễ sáng tạo bảy ngày được đề cập trong 10 điều răn (Xuất Ê-díp-tô ký 20:11) không? Điều này không hấp dẫn sao? Trong cái nhìn của tất cả mọi thứ, Đấng Tạo Hóa có thể đã đề cập đến để được ghi nhớ mãi mãi, để kêu gọi sự chú ý đến tuần sáng tạo bảy ngày đầu tiên.

Chẳng có vấn đề gì về việc dịch sang Việt ngữ bản 10 điều răn. Điều chúng ta đọc được đúng là điều mà Đức Chúa Trời đã phán. Ngài phán: “...vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó ...” (20:11). Điều đó có ý nghĩa đúng như những gì nó được ghi lại. Trong sáu ngày, Đức Chúa Trời đã tạo dựng mọi thứ vốn đã và đang tồn tại, bất luận nó tồn tại trên các tầng trời, trên đất hay dưới biển sâu. Ngài đã tạo dựng nó với đầy đủ chức năng lúc đã trưởng thành và với bề ngoài đã có tuổi. Điều đó bao gồm mọi thứ trong thế giới vĩ mô (các ngôi sao, các hành tinh, mặt trời, mặt trăng, các sao chổi, các tiểu hành tinh, các thiên sứ v.v...) và thế giới vi mô (các phân tử, nguyên tử và vi lượng của các con voi, con bọ và cá mập v.v...). Một kỳ sáng tạo sáu ngày không còn chỗ nào cho tiến hóa hữu thần và hàng tỉ năm của nó, hoặc cho một “lỗ hổng” giữa Sáng thế ký 1:1 và 1:2. Một số học giả Kinh Thánh của thế kỷ 20 đã tin vào thuyết lỗ hổng (gap theory) do ảnh hưởng của “khoa học” tiến hóa. Những con người thánh thiện này tin rằng khoa học công bố những thời đại địa chất lâu dài và người “tiền sử” đã được chứng minh là thật. Họ tìm đến những đoạn đầu của Sáng-thế ký và cố hướng Kinh Thánh vào khoa học bằng cách mặc nhiên công nhận có một lỗ hổng giữa 1:1 và 1:2. Không hề có chủng tộc tiền A-đam (_) (pre-Adamic) là những con người tội lỗi sống trong lỗ hổng. Chẳng những họ không thể sống trong điều kiện không có ánh sáng, mà tội lỗi và điều ác cũng chưa từng xuất hiện trong vũ trụ (vật chất - ND) mãi cho đến khi A-đam sa ngã.

Rô-ma 5:12 chép: “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi đã vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều đã phạm tội.”

Một hậu quả rõ ràng của tội lỗi A-đam gây nên chính là sự chết, nhưng trước khi A-đam phạm tội, thì không có sự chết. Nếu không có sự chết trước khi A-đam phạm tội (điều này được khẳng định rất rõ ràng trong Lời Chúa), thì không thể có chuyện người ta chết trong thế giới tiền A-đam.

Thực ra, toàn bộ sự sáng tạo đã bị ảnh hưởng bởi tội lỗi của A-đam và nó vẫn còn “đè nặng” với các gai nhọn, các gánh nặng và các hậu quả tai hại chờ đợi sự cứu rỗi.  8:22-23 chép rằng:

“Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay, không những muôn vật thôi, lại chúng ta, là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, cũng than thở trong lòng đang khi trông đợi sự làm con nuôi, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta vậy.”

Cứ khăng khăng theo thuyết lỗ hổng không những đòi hỏi phải có sự chết trước sự sa ngã (của A-đam), nhưng nó cũng buộc phải có sự thay đổi trong bản văn Kinh Thánh. Sáng thế ký 1:2 phải được đổi từ: “Vả, đất là vô hình và trống không ” thành “Vả, đất trở nên vô hình và trống không.” Đức Chúa Trời cũng dùng chính chữ “là” (was) này trong 2:25 và 3:1. 2:25 chép: “Vả, A-đam và vợ, cả hai đều (were ) trần truồng ...” A-đam và Ê-va đã không được tạo dựng trong tình trạng có sẵn quần áo và rồi “trở nên” trần truồng . Chúng ta cũng có thể nói như vậy với con rắn trong 3:1. Không phải là nó đã “trở nên” quỷ quyệt vì trước đó chưa từng quỷ quyệt; nó đã quỷ quyệt ngay từ ban đầu. Thuyết lỗ hổng cần phải có sự thay đổi trong bản văn Kinh Thánh. Để hiểu hơn về những vấn đề của thuyết lỗ hổng, hãy đọc quyển sách của tiến sĩ John Whitcomb, The Early Earth . Chúng ta không cần phải “dàn xếp” (accommodate) Kinh Thánh vào những gì chúng ta tin là khoa học thực nghiệm - những thời đại địa chất - bằng cách đặt ra một cái lỗ hổng giữa 1:1 và 1:2 hay bằng cách kéo dài một ngày-24-giờ của Sáng-thế ký 1 thành ra những thời đại địa chất thật lâu. Những người đã làm chuyện này, có lẽ hầu như vô tình, đã phá vỡ một quy luật căn bản: Không bao giờ được hướng Kinh Thánh vào khoa học, nhưng khoa học lúc nào cũng phải theo Kinh Thánh.

Ở địa vị của tôi, là một trong những người tận hiến đời mình cho Đức Chúa Giê-xu Christ trễ hơn, hầu hết những người khác (ở tuổi 27) và cũng là người đã phải chịu đựng một cuộc tranh chiến xé lòng với vấn đề này. Khi tôi tin nhận Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa và Cứu Chúa của đời sống mình, tôi trở thành một nhà tiến hóa hữu thần. Rồi thì tôi nhận thấy một điều, như nhiều người nam và người nữ khác đã thấy (khi quay về với những lẽ thật của Thánh Kinh), sự sáng tạo của Đức Chúa Trời trong sáu ngày là hoàn toàn đúng đắn và thực tế. Khoa học mà tôi đã học chứng minh sự phức tạp của mỗi loài cây, con vật, giống côn trùng và lại không có một câu trả lời nào khác hơn cho câu hỏi “tại sao” và “làm thế nào” có sự phức tạp này, ngoại trừ câu nói: “không một ai, cộng với không có gì cho ra mọi thứ” hay “tất cả những cái đó là kết quả của sự khách quan cộng với ngẫu nhiên cộng với thời gian.” Đức Chúa Trời của chúng ta, Đấng Sáng Tạo oai quyền, không cần thời gian. Ngài ở trên thời gian. Đấng Tạo Hóa Jêsus đã cho thấy khả năng siêu nhiên của Ngài qua việc làm các phép lạ mà không bị chi phối bởi thời gian. Khi chúng ta tin vào Sáng-thế ký 1 đúng như những gì đã được viết, chúng ta sẽ quỳ xuống và thờ phượng trong một niềm tin trọn vẹn hướng về Đấng Tạo Hóa độc nhất, và cũng rất đáng kính sợ. Như Gióp đã nói: “Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự, chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm. Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi” (Gióp 42:2, 5-6).

Trên đây, chúng ta đã đề cập đến những tài liệu cho thấy rằng các chi tiết của tiến hóa và những chi tiết riêng biệt trong Sáng-thế ký 1 không trùng khớp nhau (Scott Huse, Sự Sụp Đổ của Thuyết Tiến Hóa và Walter Brown, Ban Đầu ). Chẳng hạn tiến hóa nói rằng loài bò sát phát triển trước rồi mới đến loài chim tiến hóa từ loài bò sát , nhưng Kinh Thánh chép rằng loài chim có trước (Sáng thế ký 1:20-23) và rồi mới có loài bò sát (1:24-26). Nếu chúng ta trở lại việc suy nghĩ về những ngày của Sáng-thế ký, thì chắc chắn sẽ có nhiều điều không hợp lý nếu chúng ta coi đó là những khoảng thời gian dài. Chẳng hạn, Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên các loài cây cỏ trong ngày thứ ba (1:12-13), nhưng Ngài tạo dựng côn trùng vào ngày thứ sáu. Nhiều loài thực vật cần phải có côn trùng để thụ phấn cho. Làm thế nào chúng có thể sống sót và tồn tại trong hơn 2 tỉ năm chờ đợi loài côn trùng “tiến hóa”?

Thuyết tiến hóa không có câu trả lời cho việc làm thế nào mà chúng ta đã đến đây. Tiến hóa buộc chúng ta phải vứt bỏ những lời được viết rõ ràng và dễ hiểu của 1:1-11:32, vì cả hai không tương đồng với nhau. Chúng ta tin Kinh Thánh hay chúng ta đã đặt niềm tin của mình lên những suy đoán ngu dại của con người, dựa trên nền tảng của những giả thuyết của cái gọi là khoa học mà lại không thể chứng minh bằng chính thực nghiệm khoa học, theo phương pháp khoa học (xem phần đầu chương 2, “Bảy giả thuyết cơ bản”)?

Vì các nguồn gốc theo thuyết tiến hóa và cả sáng tạo đều không thể xác định được bằng khoa học thực nghiệm, nên chúng ta phải đối diện với vấn đề “đức tin.” Không có người nào ở đó chứng kiến Vụ Nổ Lớn, và cũng chẳng có ai nhìn thấy sự sáng tạo.

Nhiều người trong chúng ta dễ dàng xưng nhận mình tin rằng Đức Chúa Jêsus Christ là Con Thượng Đế, được sanh ra từ một người mẹ xác thịt đồng trinh, cũng như sự sống lại của Ngài từ cõi chết. Chúng ta chấp nhận điều này là thật mà không một chút ngần ngại, nhưng chúng ta lại giới hạn Đức Chúa Trời trong một thực thể “thử và sai” (trial and error - phương pháp thí nghiệm khoa học loại dần cho đến khi đạt kết quả đúng như giả thuyết - ND) vốn không thể “phán để sự sáng tạo xuất hiện,” rồi lại tin vào hàng tỉ năm cũng như một quá trình tiến hóa để cuối cùng “công nhận là nó đúng.”

Tôi cho rằng nguyên nhân chính của việc bác bỏ một quan điểm sáng tạo (đặc biệt là trong những lời tuyên bố của các nhà tiến hóa) chính là sự kiêu ngạo và sự phản loạn cố hữu của con người. Tiến hóa cho phép chúng ta được tự do khỏi Đức Chúa Trời để chúng ta không còn cảm thấy mình có trách nhiệm giải trình trước mặt Chúa. Tiến hóa lấy mất những áp lực (thức tỉnh - ND) trên lương tâm chúng ta!

Thời Đại Mới (New Age) và rộng khắp hiện nay đang dạy rằng “mỗi chúng ta có trong mình một ý thức thần thánh (god consciousness) và có thể đạt đến trạng thái như thần thánh bằng chính sức lực của chúng ta khi chúng ta học nhìn vào trong chính bản thân mình và phát triển toàn bộ những tiềm năng mà chúng ta có,” hơn nữa đã thúc đẩy những ngọn lửa của tính tự mãn, ích kỷ và sự độc lập khỏi bất cứ một quyền năng nào lớn hơn chính chúng ta. Sự dạy dỗ của Thời Đại Mới này đề cao tiến hóa và là một quan niệm chết người. Nó là con đường của sự chết vì nó dẫn con người ta đến chỗ chối bỏ Đức Chúa Jêsus và phủ nhận Ngài là Cứu Chúa của chính họ. Tư tưởng tiến hóa Thời Đại Mới cũng thuyết phục mọi người rằng họ không thể tin vào 11 đoạn đầu tiên của Sáng-thế ký đích thực là Lời của Đức Chúa Trời.

NƯỚC LỤT BAO PHỦ TRÁI ĐẤT

Ở phần đầu Sáng-thế ký đã có đề cập đến trận Đại Hồng Thủy vào thời Nô-ê. Nếu tiến hóa là thật, thì một trận Đại Hồng Thủy diễn ra khoảng 5.000 năm trước đây là điều không thể! Tiến hóa đòi hỏi hàng triệu năm, không chỉ vài ngàn năm, để cho các sinh vật và hệ thống sinh thái tiến hóa. Đôi lúc chúng ta nghe biến cố lịch sử này được đề cập đến như là trận Đại Hồng Thủy của Nô-ê. Nó không phải là trận Đại Hồng Thủy của Nô-ê. Nó là trận Đại Hồng Thủy của Đức Chúa Trời! Trận lụt chính là hình phạt dành cho tội lỗi vốn đã lan tràn khắp đất.  6:5-14a  mô tả lòng Đức Chúa Trời đã tan vỡ thế nào vì sự phạm tội của loài người và sự nhìn nhận Nô-ê là con người công bình duy nhất trên mặt đất.

“Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều,và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn, thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất, và buồn rầu trong lòng. Đức Giê-hô-va phán rằng: ‘Ta sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người mà ta đã dựng nên, từ loài người cho đến loài súc vật,loài côn trùng, loài chim trời, vì ta tự trách đã dựng nên các loài đó.’ Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. Này là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và toàn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. Nô-ê sanh ba con trai là Sem, Cham và Gia-phết. Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác. Này, Đức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy điều bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại hoại. Đức Chúa Trời bèn phán cùng Nô-ê rằng: ‘Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt ta, vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng, vậy, ta sẽ diệt trừ họ cùng đất.’”

SỰ HỦY DIỆT CỦA TẤT CẢ CÁC XÁC THỊT TRÊN MẶT ĐẤT

Đức Chúa Trời phán bảo với chúng ta mục đích Ngài đã tạo nên trận Đại Hồng Thủy là gì? 6:5 chép rằng Đức Chúa Trời thấy sự hung ác và tội lỗi nơi loài người. 6:17 ghi lại mục đích thực sự của trận lũ: “...đặng tuyệt diệt các xác thịt.” Các dạng sống sẽ bị tiêu diệt được liệt kê cách đặc biệt trong 7:21-23:

“Các xác thịt hành động trên mặt đất đều chết ngột, nào chim, nào súc vật, nào thú rừng, nào côn trùng, và mọi người. Các vật có sanh khí trong lỗ mũi,các vật ở trên đất liền đều chết hết. Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ loài người cho đến loài thú, loài côn trùng cùng loài chim trời, chỉ còn Nô-ê và các loài ở với người trong tàu mà thôi.”

Mục đích của đợt phán xét lớn bằng nước này là để hủy diệt tất cả mọi dạng sống trên đất liền. Sự sống trên đất liền trước đây sinh sôi nảy nở rất tốt trong lưu vực sông Hi-đê-ke và sông Ơ-phơ-rát! Trận lụt không diễn ra để hủy diệt sự sống dưới nước, dẫu rằng nhiều sinh vật sống trong nước đã bị tiêu diệt bởi trận lũ như được thấy trong các hóa thạch.

Phi-e-rơ nói với chúng ta (trong IIPhi-e-rơ 3:5-13) rằng có ba hệ thống trời và đất trong kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời. Hệ thống thứ nhất đã hoàn toàn bị hủy diệt trong cơn nước lụt vốn là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời vào thời Nô-ê. Xin nhớ rằng chính sự hung ác  (Sáng thế ký 6:11) đã khiến Chúa phải đoán phạt! (Nội dung của các phim ảnh và phim hoạt hình mà bạn đang xem ngày nay trong nhà mình là gì? Bạn có để ý thấy rằng nó đang gia tăng về bạo lực không?)

Hệ thống trời và đất thứ hai (hệ thống hiện tại của chúng ta, IIPhi-e-rơ 3:7) sẽ bị hủy diệt bởi lửa, nóng đến độ sẽ phá hủy toàn bộ cấu trúc phân tử nền tảng của trái đất và bầu trời (3:10). Cội rễ của tội lỗi, sự hung ác, và bạo lực cuối cùng sẽ bị thiêu rụi. Vì thế, hiện nay bạn đang đầu tư những tài nguyên (thời gian, tiền bạc, tài trí) của bạn như thế nào? Chỉ có ba thứ sẽ không bị thiêu hủy - Đức Chúa Trời; Lời Chúa, Kinh Thánh; và con người. Có phải bạn đang đầu tư vào cõi đời đời của Lời Chúa và đầu tư vào con người không (ra đi làm chứng - ND)?

Hệ thống trời và đất thứ ba được gọi là trời mới đất mới (3:13). Hệ thống trời và đất này là công chính và đời đời cũng đã được đề cập đến trong Rô-ma 8:21, Khải huyền 21:1; và có lẽ Ê-sai 65:17. Nó sẽ tồn tại mãi mãi. Chỉ những ai có tên trong Sách Sự Sống của Chiên Con mới được thừa hưởng trời mới đất mới. Bạn có đến với Chiên Con, Đức Chúa Jêsus, bằng đức tin và tin rằng chỉ mình Ngài có quyền cứu bạn khỏi sự chết và giải phóng cho linh hồn bạn không? Bạn đã tận hiến cả đời mình cho Ngài và hầu việc Ngài chưa?

Đức Chúa Jêsus đã đối chiếu biến cố nước lụt trong thời Nô-ê với sự tái lâm của Ngài:

“Việc đã xảy đến trong đời Nô-ê, thì cũng sẽ xảy đến trong ngày Con người: người ta ăn, uống, cưới, gả, cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và nước lụt đến hủy diệt thiên hạ hết ” (Lu-ca 17:26-27).

Trong Kinh Thánh, nước lụt là một biến cố thật. Nô-ê không phải là một nhân vật thần thoại (_). Đức Chúa Jêsus và các trước giả của Kinh Thánh tin và dạy về một con người thực tên là Nô-ê và một trận Đại Hồng Thủy toàn cầu. Không có một chỗ nào trong Kinh Thánh đề cập đến trận Đại Hồng Thủy như là một vụ tràn nước từ một dòng sông như một số học giả đã đưa ra giả thuyết. Các từ trong Sáng-thế ký 6-9 hoàn toàn có nghĩa trong từ điển tiếng Hê-bơ-rơ, chúng không phải là những ký hiệu mô tả một biến cố huyền thoại được ghi lại bởi một trước giả nào đó mà sự hiểu biết của ông ta chỉ thu hẹp quanh các bờ sông của con sông Ơ-phơ-rát và Hi-đê-ke. Trận lụt này bao phủ “...hết thảy những ngọn núi cao ở dưới trời ” (Sáng thế ký 7:19). Trời ở đây tức là bầu khí quyển bao quanh trái đất chúng ta, chỗ có chim bay (xem 1:20).

CHIẾC TÀU CỦA NÔ-Ê

tauno-e
Đức Chúa Trời thúc đẩy Nô-ê đóng một chiếc tàu có chiều dài ba trăm thước, chiều rộng năm mươi thước, chiều cao ba mươi thước chỉ vì một vụ tràn nước từ một con sông thôi sao? Con tàu đủ lớn để mang tất cả các loài động vật trên cạn cần thiết để tái định cư và phát triển trên địa cầu. Các nhà khoa học đã ước chừng Nô-ê đã mang khoảng 35.000 con vật có kích thước cỡ con cừu để chúng ta có tất cả mọi loài động vật hiện nay. Chiếc tàu đủ lớn để mang 125.000 con vật cỡ con cừu. 35.000 con vật có thể chỉ được để trên một tầng của tàu mà thôi. Nô-ê có lẽ đã mang những con thú còn nhỏ (ngay cả những con khủng long sơ sinh) vì chúng ăn ít và chiếm chỗ không nhiều. Nô-ê và gia đình có lẽ đã sống ở tầng trên cùng, và có thể ông đã để côn trùng ở tầng dưới cùng.

Bạn có cần một chiếc thuyền lớn để bảo vệ loài chim trong một vụ nước tràn bờ của một dòng sông nhỏ không? Bạn có bao giờ nghe thấy một vụ tràn bờ nào kéo dài hơn một năm không? Trận Đại Hồng Thủy Sáng-thế ký thì có đấy. Tại sao Đức Chúa Trời lại cho Nô-ê đến những 120 năm để đóng tàu (Sáng thế ký 6:3) trong khi việc di chuyển cả gia đình ông và đàn gia súc ra khỏi thung lũng Mesopotamian là hết sức dễ dàng? Trong 120 năm, Nô-ê hoàn toàn có thể cao chạy xa bay khỏi trận lũ nếu đó chỉ là một vụ tràn nước sông nhỏ! (_)

Đức Chúa Trời có thể chăm sóc cho Nô-ê và gia đình cùng con tàu đầy những động vật sống đó trong cả một năm không? 8:1 bắt đầu như sau: “Vả, Đức Chúa Trời nhớ lại Nô-ê cùng các loài thú và súc vật ở trong tàu với người ...” Từ “nhớ lại” là một từ đặc biệt. Trong ngôn ngữ Hê-bơ-rơ, nó có nghĩa là sự chăm sóc đặc biệt và luôn luôn chăm nom . Khái niệm về sự thấu hiểu những nhu cầu và thực hiện hành động đáp ứng nhu cầu đó cũng được bao hàm trong ý nghĩa của từ. Không phải là Nô-ê đã bị mắc kẹt trong một chiếc tàu và Đức Chúa Trời thì bận làm những việc khác. Rồi thình lình Chúa nhìn xuống và nói, “Ồ, ta chợt nhớ ra Nô-ê.” Từ này còn mang cả ý nghĩa của sự đáp ứng các nhu cầu.

Một số nhà sáng tạo đã thừa nhận quá trình ngủ (của động vật) có thể đã bắt đầu trong suốt thời gian nước lũ. Có lẽ nhiều loài động vật ngủ suốt cả chặng đường. Vô số các động vật khác không thường ngủ như vậy cũng có thể ngủ suốt như thế trong những điều kiện nào đó của phòng thí nghiệm. Khả năng ngủ đó thể hiện qua các loài động vật như dơi, chồn hôi, chuột chũi, sóc chó, lửng, gấu, một số loài chuột, chim ruồi, rắn, rùa, cóc, nhện, bọ, chuồn chuồn, châu chấu, ốc sên, v.v...Việc một số, nếu không nói là nhiều, loài động vật ngủ một thời gian dài trong năm là điều chẳng có gì khó tin cả. Nhiều người “phỉ báng” Kinh Thánh nói rằng Kinh Thánh chỉ đề cập đến Nô-ê và con tàu như một huyền thoại hay một câu chuyện chứ không phải là một biến cố lịch sử. Phần nào đó thì điều này có thể, vì một việc dường như không thể là quá ít người lại có thể chăm sóc cho một số lớn động vật như vậy. Sự ngủ của động vật và côn trùng đã làm giảm thời gian đòi hỏi chuyện ăn uống và thu dọn bởi 8 hành khách trong chiếc tàu. Không ai biết đích xác chuyện gì đã xảy ra trong một chiếc tàu đã bị đóng kín, nhưng Chúa biết và Ngài chăm sóc nó để các tạo vật của Ngài được sống sót.

BÀN THỜ, CẦU VỒNG VÀ CƠN SAY

Bạn còn nhớ chuyện gì xảy ra khi Nô-ê ra khỏi tàu không? Có ba thứ xuất hiện: bàn thờ, cầu vồng và một cơn say. Cái đầu tiên ghi lại một biến cố trong cuộc đời Nô-ê sau khi ông rời tàu, tức là sự thờ phượng. Ông lập một bàn thờ để thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời. 8:20-21 chép:

“Nô-ê lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va. Người bắt các súc vật thanh sạch, các loài chim thanh sạch, bày của lễ thiêu dâng lên bàn thờ. Đức Giê-hô-va hưởng lấy mùi thơm và nghĩ thầm rằng: ‘Ta chẳng vì loài người mà rủa sả đất nữa, vì tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi còn tuổi trẻ, ta cũng sẽ chẳng hành các vật sống như ta đã làm.”

Kết quả, Đức Chúa Trời đã ban cho Nô-ê một lời hứa qua chiếc cầu vồng. Có phải chiếc cầu vồng là dấu hiệu cho lời hứa của Đức Chúa Trời với con người rằng Ngài sẽ chẳng để cho nước sông dâng lên tạo thành những trận lũ (nhỏ) không? Dĩ nhiên là không! Nếu nó chỉ là một trận lụt nhỏ do nước sông tràn ra trong thời đó thì cầu vồng, được coi là biểu tượng của giao ước, chẳng có ý nghĩa gì cả. Vào thời Nô-ê, đã từng có nhiều trận lụt nhỏ do nước sông tràn lên tại vùng Trung Đông. Ý nghĩa của cầu vồng là Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ hủy diệt sự sống trên trái đất này bằng một trận Đại Hồng Thủy nữa.

Phân đoạn Kinh Thánh ghi lại cơn say của Nô-ê cũng rất quan trọng trong việc nghiên cứu sự sáng tạo. Có thể có vài lý do cho việc đề cập đến biến cố này trong Lời Hằng Sống đời đời của Đức Chúa Trời, nhưng nó cũng có thể dễ dàng cho thấy rằng con người không còn sống trong hệ thống trời và đất đầu tiên nữa (#1) (hệ thống trời và đất trước cơn Đại Hồng Thủy - ND) khi cơn Đại Hồng Thủy đã qua. Hệ thống sinh thái học và môi trường trước cơn lũ đã hoàn toàn bị phá hủy bởi chính cơn lũ. Hệ thống trời và đất hiện tại (#2) thì khác hẳn.

Một số đoạn trích từ II Phi-e-rơ 3 giới thiệu cho chúng ta biết kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời, một kế hoạch có ba hệ thống trời và đất: Hệ thống trời và đất thời A-đam đến Nô-ê (hệ thống #1); hệ thống trời và đất hiện tại (hệ thống #2); và Trời Mới Đất Mới thuộc cõi vĩnh hằng (hệ thống #3).

“Trước hết phải biết rằng, trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê, dùng lời giễu cợt ở theo tình dục riêng của mình, đến mà nói rằng: ‘Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế.’ Chúng nó có ý quên lửng đi rằng buổi xưa bởi lời Đức Chúa Trời có các từng trời và trái đất, đất ra từ Nước và làm nên ở giữa nước, thế gian bấy giờ cũng bị hủy phá như vật, là bị chìm đắm bởi nước lụt. Nhưng trời đất thời bây giờ cũng là bởi lời ấy mà còn lại, và để dành cho lửa, lửa sẽ đốt nó đi trong ngày phán xét và hủy phá kẻ ác. Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chết bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả."

"Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở ” (IIPhi-e-rơ 3:3-7, 10, 13).

Có lẽ hệ thống trời và đất #1 có bầu khí quyển nặng hơn bầu khí quyển hiện tại của chúng ta (#2). Việc áp lực khí quyển tăng cao là kết quả của việc Chúa lấy nước khỏi bề mặt trái đất (xem Sáng thế ký 1:6-8) và đặt nó lên trên bầu khí quyển, hay nói chính xác hơn, là khoảng không, hay từng trời mà các loài chim bay lượn (xem 1:20). “Nước ở trên khoảng không” đổ xuống vào thời Nô-ê và có thể lắm đã tạo điều kiện khả dĩ gây nên cơn say của Nô-ê.

MÀN HƠI NƯỚC CỦA TRÁI ĐẤT TRƯỚC TRẬN ĐẠI HỒNG THỦY

Tôi còn nhớ một bữa ăn trưa đặc biệt trong văn phòng tại trường đại học Baylor ở Dentistry và nghiên cứu Sáng-thế ký 1. Những sinh viên nha khoa đó đã yêu cầu tôi giải thích cho họ biết Đức Chúa Trời nói đến điều gì từ câu 6-8a. Chúng ta thường đọc Kinh Thánh nhưng không chịu suy nghĩ xem thực sự nó nói đến điều gì. Khi tôi suy gẫm các câu Kinh Thánh đó, tôi nhận ra rằng tôi không biết nó nói gì cả. Và các câu Kinh Thánh đó đây:

“Đức Chúa Trời lại phán rằng: ‘Phải có một khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước. Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không, thì có như vậy.”

Phân đoạn trên nói rằng Đức Chúa Trời đã phân chia nước ra và đặt một số lên trên bầu trời (“khoảng không” trong câu 8a) và để một số nước ở dưới khoảng không đó. Khoảng không này là gì? Sáng thế ký 1:20 chép:

“Đức Chúa Trời lại phán rằng: ‘Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời.”

Khoảng không hay bầu trời trong 1:7 có thể là các khoảng không trên trời trong 1:20 nơi mà các loài chim bay lượn. Bây giờ, có vài quan điểm và những bản dịch khác nhau về các câu Kinh Thánh này, nhưng cái có vẻ có ý nghĩa nhất với tôi là: Đức Chúa Trời đã chia cắt nước bao phủ bề mặt trái đất từ buổi ban đầu, để một số trên đất, và đặt một số trên khoảng không nơi các loài chim bay lượn. Nếu nước này ở dạng hơi nước, nó sẽ làm cho hệ thống trời và đất #1 trở nên giống như một nhà kính khổng lồ. Ắt hẳn đã không có mưa! Và Kinh Thánh chép gì? 2:6: “Song có hơi nước dưới đất bay lên tưới cùng mặt đất.” Đó là ảnh hưởng chính xác nhất lên bề mặt trái đất nếu nó được bao phủ bởi một màn hơn nước, vốn sẽ hình thành sương buổi sáng. 2:5b càng cụ thể hơn: “...vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chưa có cho mưa xuống trên đất .” Không có mưa, thì sẽ không có cầu vồng! Hệ thống trời và đất #1 rõ ràng khác biệt rất nhiều so với hệ thống hiện tại của chúng ta, hệ thống #2.

Cầu vồng là một hiện tượng đặc biệt Đức Chúa Trời dùng để làm ký hiệu cho giao ước Ngài đã lập để hứa rằng Ngài sẽ chẳng bao giờ trừng phạt địa cầu bằng những trận lụt toàn cầu nữa. Nô-ê chưa từng bao giờ thấy một cầu vồng trong các đám mây trước cơn lũ, vì trời chưa bao giờ mưa cả. Sau cơn lũ, khi lớp màn hơi nước tan đi trong suốt 40 ngày và 40 đêm mưa liên tục, Nô-ê đã ở trong hệ thống trời và đất #2, và vì thế đã từng trải thời tiết của chúng ta: mưa và các cầu vồng. Ông cũng đã kinh nghiệm sự khác biệt giữa áp suất khí quyển của hệ thống #1 trước cơn lũ và của hệ thống #2 sau cơn lũ - áp suất khí quyển của hệ thống #2 khiến cho quá trình lên men diễn ra nhanh hơn và hoàn toàn có thể là nguyên nhân cơn say của Nô-ê.

Lớp màn trước cơn lũ có lẽ là hơi nước. Cũng có những giả thuyết khác, nhưng chúng ta luôn nhớ rằng những con chim đang bay lượn trong khoảng không dưới lớp nước này, và cũng là một lớp nước có thể nhìn thấu qua được. Mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, từ A-đam cho đến Nô-ê thảy đều thấy cả, Sáng-thế ký 1:14; khẳng định chúng đóng vai trò như các dấu hiệu.

Hơi nước thì trong suốt, không giống như mây hoặc sương. Một thí nghiệm nhỏ cũng đủ để chứng minh điều này, và bạn cũng có thể làm được trong nhà bếp của mình. Đổ nước vào một cái ấm nhỏ, và đặt lên lò, đun cho sôi. Khi hơi bắt đầu thoát ra khỏi vòi ấm, hãy nhìn gần, thật gần đầu vòi ấm. Bạn sẽ thấy độ khoảng 1/2 đến 1 inch hơi nước trong suốt ở 212oF (100oC) trước khi nó trở thành giống như mây (có màu trắng đục). Đây có thể là dạng nước mà Đức Chúa Trời đã đặt để trên khoảng không chim bay lượn.

Rượu lên men nhanh hơn và thâm nhập vào máu cũng như vào não nhanh hơn trong hệ thống trời và đất #2 khi so với hệ thống #1 vì áp suất không khí đã bị giảm ít nhất là một nửa so với trước vì “nước ở trên khoảng không” đã trút xuống dưới dạng mưa. Tỉ lệ lên men rượu tăng lên gấp đôi khi áp suất giảm đi một nửa. Dường như việc Nô-ê vướng vào chuyện đó là hết sức ngạc nhiên. Ông là một người công bình trước mặt Chúa. Ông đã không quên lập bàn thờ và thờ phượng Ngài, tế lễ cho Ngài, là Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Nô-ê có lẽ đã uống cùng một lượng rượu như trước cơn lũ ông đã uống. Nhưng bây giờ, trong điều kiện hệ thống trời và đất #2 đã khác nhiều so với hệ thống #1 trước khi ông vào tàu, áp suất không khí đã giảm đi một nửa, và rượu lên men nhanh hơn ít nhất là 2 lần, và cũng xâm nhập vào cơ thể ông nhanh hơn, ít nhất là hai lần - đã hạ gục Nô-ê với một cơn say bất ngờ. Chúng ta không biết liệu trước hay sau biến cố này, Nô-ê có lần nào say như vậy không. Có lẽ một trong số những lý do Đấng Tạo Hóa đã ghi lại cho chúng ta biến cố đau lòng này để cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa hai hệ thống #1 và #2.

Hệ thống trời và đất hiện tại của chúng ta khác biệt rất nhiều so với trước khi nước lụt xảy ra. Đó là lý do tại sao chúng ta không thấy những con thằn lằn bay với đôi cánh rộng đến 32 bộ, hay những vỏ ốc cao đến 8 bộ hoặc những con khủng long nặng đến 300.000 cân Anh (khoảng 150.000 kg) đi lại trên đất ngày nay. Nhưng con người đã sống trong hệ thống #1 đã và vẫn đang phát đạt, sinh sôi nảy nở trong hệ thống #2. Chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể tạo nên sự sống để nó có thể tương thích tốt với cả hai hệ thống trời - đất, hệ sinh thái khác nhau đáng kể. Thật chẳng có ai giống Ngài!

“Hỡi Đức Giê-hô-va, chẳng ai giống như Ngài! Ngài là lớn, danh Ngài có sức mạnh lớn lắm. Chính Đức Giê-hô-va đã làm nên đất bởi quyền năng Ngài, đã lập thế gian bởi sự khôn ngoan Ngài, đã giương các từng trời ra bởi sự thông sáng Ngài. Sản nghiệp của Gia-cốp thì chẳng giống như vậy, vì Ngài đã tạo nên mọi sự, và Y-sơ-ra-ên là chi phái của cơ nghiệp Ngài. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân” (Giê-rê-mi 10:6, 12, 16).

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Cá Vây Chân

cavaychan-2
Một trong những sáng tạo đáng ngạc nhiên của Đức Chúa Trời là loài cá vây chân sống dưới chốn biển sâu. Loài cá này sống ở độ sâu khoảng 1 dặm (1600 m) dưới đại dương. Ở trên trán của con cái có một cái “cần câu cá,” đằng đầu có một con mồi giả. Nó lúc lắc con mồi này trước miệng để nhử “bữa ăn” của mình. À, nhưng có một vấn đề đây - “bữa ăn” của nó sẽ không thể thấy được con mồi, vì ở độ sâu cả dặm dưới đáy biển thì làm gì có ánh sáng, chỉ có bóng tối bao trùm mà thôi. Nguy cơ chết đói đang chờ nó khi nó cứ mãi chờ con mồi thật của mình dẫn xác đến trong bóng đêm. Cuối cùng, nó nhận ra rằng, “Mình phải làm gì đó để giải quyết vấn đề bóng tối này.” Nhưng kìa, mọi sự đã quá trễ. Nó chết vì đói, và đã chết thì không thể nào tiến hóa những bộ phận thích nghi cần thiết cho việc giải quyết vấn đề bóng tối, ngay cả khi tiến hóa nói rằng nó sẽ không tiến hóa gì hết cho đến khi hoàn cảnh (hay môi trường) nói với nó rằng nó cần phải tiến hóa để sống sót.

Khả năng duy nhất là chính Đức Chúa Trời đã tạo dựng con cá vây chân với đầy đủ bộ phận chức năng cần thiết để sống sót ở những nơi sâu thẳm và tăm tối nhất của đại dương. Để giải quyết vấn đề bóng tối, Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho con cá này một loại ánh sáng đặc biệt trên “con mồi” (nó dùng để nhử những con cá khác - ND). Thứ ánh sáng này chứng tỏ một trình độ kỹ thuật cao - nó không hề sinh ra nhiệt! Một hợp chất gọi là Luciferin bị ôxy hóa dưới sự tác động của một enzyme mà các nhà khoa học gọi là Luciferase, và phản ứng này tạo nên thứ ánh sáng không phát nhiệt. Hãy hỏi một nhà tiến hóa xem, làm thế nào một con cá dưới đáy biển sâu có thể tiến hóa để có được một khả năng sản sinh ra thứ ánh sáng kỹ thuật cao trên một con mồi giả đung đưa qua lại trước miệng của nó? Đức Chúa Trời đã sáng tạo mọi vật để bày tỏ quyền năng và sự vinh hiển của Ngài. Không một ai có thể nhìn vào con cá vây chân và nói rằng nó là sản phẩm của “khách quan cộng với thời gian, cộng với sự ngẫu nhiên,” trừ khi người đó đã quyết định không chịu tin vào Thượng Đế của Thánh Kinh (Rô-ma 1:1-32). Những suy đoán hão huyền của tiến hóa đã dẫn đến những tư tưởng điên rồ và những kết luận không bao giờ có.

Về mặt tự nhiên, con cá vây chân cũng cần phải sinh sản, và nó có một cách rất đặc biệt để làm việc này. Trong bóng tối của độ sâu, thật khó cho con đực cũng như con cái tìm đến nhau. Đức Chúa Trời đã thiết kế những cái trứng của con cái như thế nào đó để chúng nổi hẳn lên trên mặt nước biển, cách nơi nó ra đời đến một dặm. Trên mặt nước biển, những cái trứng hình thành một khối giống như thạch (jelly-like mass) và chúng nở ra. Những con cá con, đực cũng như cái, lớn lên và trưởng thành trên bề mặt nước biển. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển của nó, con đực sẽ tìm con cái, cắn và bám vào bụng nó. Chẳng bao lâu sau đó, các mô của con cái phát triển và dính vào các mô ở miệng con đực, và con cái rớt xuống đáy đại dương mang theo một con đực là “kẻ ăn bám” (parasite) mà chẳng bao giờ hai con tách ra nữa, mãi cho đến khi chết mới chia lìa. Con đực tìm thấy con cái trong ánh sáng chan hòa trên bề mặt đại dương, thế cho nên nó chẳng phải mò mẫm trong bóng tối dưới đáy đại dương để tìm một người bạn tình. Làm thế nào tất cả những điều quá ư kỳ lạ và độc nhất này tiến hóa?

Tại sao con cái không đuổi con đực đi khi nó đến và cắn vào bụng mình? Tiến hóa không có lời giải thích nào cả. Cơ cấu tiến hóa nào cho phép hệ thống lưu thông (máu,...- circulatory system) của con đực hòa hợp với của con cái? Và loài cá này tiến hóa từ loài sinh vật nào? Tiến hóa không có câu trả lời.

Một sự khác biệt chính giữa con cá vây chân và các loài cá khác là con cá vây chân không có bong bóng, một túi đựng không khí để giúp nổi lên cũng như ngăn ngừa việc chìm xuống. Nếu nó đã tiến hóa mà không có một cái bong bóng khí, nó sẽ chìm và chết. Nếu nó có một cái bong bóng khí và đã tiến hóa ra con mồi, trong ánh sáng trên bề mặt của đại dương, nó sẽ dễ dàng bị săn đuổi bởi những loài cá ăn thịt khác và “quá trình chọn lọc tự nhiên” sẽ buộc nó đi đến chỗ tuyệt chủng.

Một đặc điểm khác của loài cá vây chân dưới đáy biển sâu là thân thể đặc biệt của nó, vốn đã được tạo dựng để chống lại sức ép. Một áp suất hơn 2.000 cân Anh trên một inch (khoảng 357kg/cm2) sẽ đè lên thân thể con cá dưới độ sâu một dặm. Nó có thể sinh sống dưới áp lực lớn như thế mà không hề hấn gì. Mặt khác, nếu những con cá vây chân đầu tiên là loài cá sống trên mặt nước mà lại không có bong bóng khí, (chúng ta giả sử là do nó bị một dạng đột biến gien đặc biệt nào đó) và rồi chìm xuống đáy biển, nó sẽ bị ép chết. Động vật đã chết thì chẳng bao giờ tiến hóa.

Loài cá vây chân dưới đáy biển sâu đã được sáng tạo với đầy đủ bộ phận chức năng. Đức Chúa Trời phán rằng khi chúng ta xem xét sự sáng tạo của Ngài, thì nó phải khiến tâm trí chúng ta hướng về Đấng Tạo Hóa, cảm tạ Ngài, và tôn vinh Ngài là Chúa (1:1-32).

 

tiếp theo bấm trang 7 ở trên...

P7

 

HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH

hieuungnhakinh
V
ới lớp màn hơi nước, hệ thống trời và đất #1 khác biệt đáng kể so với hệ thống #2. Hiệu ứng nhà kính diễn ra do sức nóng của mặt trời. Có bằng chứng nào cho thấy hiệu ứng nhà kính đã từng một lần xảy ra khắp trên bề mặt địa cầu? Các hóa thạch của cây cọ đã được tìm thấy tận Alaska và những cây dương xỉ lá rộng tại Artic. Làm thế nào một hóa thạch của cây cọ lại được tìm thấy tận Alaska? Một số khoa học gia đã công bố rằng chúng đã di chuyển trong quá trình di chuyển của sự kiến tạo địa tầng (vỏ trái đất) trên hàng triệu năm. Nhưng những cây cọ này đâu có già đến nhiều triệu năm tuổi! Một người tin theo sáng tạo sẽ nói, “Chẳng có vấn đề gì cả, cây cọ đã từng mọc ở Alaska với một khí hậu nhiệt đới trước trận Đại Hồng Thủy.” Những cây này đã bị chôn vùi trong trận Đại Hồng Thủy vào thời Nô-ê và đã trở thành những hóa thạch.

Các khoa học gia đã phát hiện những khu rừng nhiệt đới và mỏ than ở Nam Cực. Những cây cọ cao 90 bộ đã nhanh chóng bị đông lạnh được tìm thấy ở quần đảo New Siberian, nơi mà ngày nay chỉ những cây liễu cao một inch (2,5 cm) phát triển.

Trong những vùng giá lạnh này, nhiều cây, một số đã hóa thạch và một số bị đóng băng, đã được tìm thấy với những vòng gỗ dễ dàng nhận dạng là của cùng khí hậu nóng. Nhà tiến hóa hỏi, “Làm thế nào chúng đến được đây?” Nhà sáng tạo trả lời, “Chúng đã mọc ở đây trước cơn lũ, khi mà từ cực này đến cực kia của trái đất đều chịu ảnh hướng của hiệu ứng nhà kính.”

Màn hơi nước có thể làm cho áp suất khí quyển quanh trái đất nặng lên hơn gấp đôi. Trong môi trường áp suất khí quyển nặng hơn này, việc hồi phục sức khỏe diễn ra tốt hơn. Nhiều bệnh viện có các phòng điều áp. Ôxy được bơm vào những phòng này với áp suất cao hơn bên ngoài và việc hồi phục tăng nhanh cách đáng ngờ. Nhiều người bệnh rất nghiêm trọng hoặc bị phỏng nặng được điều trị trong những phòng có áp suất cao này. Trong hệ thống trời - đất trước cơn lũ, với áp suất khí quyển cao, loài bò sát có thể phát triển đến một kích cỡ khổng lồ, có những sinh vật khổng lồ có thể bay lượn dễ dàng, và đã tồn tại những sinh vật khổng lồ là thế.

BÍ MẬT CỦA CON KHỦNG LONG KHỔNG LỒ

Tiến hóa gặp phải vấn đề gọi là Bí Mật Của Con Khủng Long Khổng Lồ (The Great Dinosaur Mystery). Những con khủng long khổng lồ này đến từ đâu; làm thế nào mà chúng lại phát triển to lớn đến thế; và nếu chúng là “những cá thể sống sót trong quá trình chọn lọc tự nhiên,” thì tại sao những sinh vật mạnh mẽ này lại tuyệt chủng?

Một người theo thuyết sáng tạo sẽ trả lời, “Không có vấn đề gì cả!” Đức Chúa Trời đã tạo dựng những loài bò sát khổng lồ và có thể một hay hai con trong số chúng đã được đề cập đến trong Gióp (xem Gióp 40:15-41:34). Các loài bò sát không có nhân tố ức chế phát triển bên trong giống như các loài động vật khác và con người. Những con khủng long vẫn tiếp tục phát triển chừng nào chúng còn sống. Chúng càng già bao nhiêu thì càng to xác bấy nhiêu. Vùng khí hậu ấm áp là nơi tốt nhất cho các loài bò sát sinh sống vì chúng là những động vật máu lạnh. Đức Chúa Trời đã tạo nên những loài bò sát cứ mãi lớn lên trong một bầu khí quyển có áp suất cao với một nguồn cung cấp thực phẩm không giới hạn từ các loài cây vốn chẳng có gì ăn chúng. Kinh Thánh chép:

“Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn, thì có như vậy ” (Sáng thế ký 1:30).

Điều này cho thấy rằng trước cơn lũ tất cả các loài động vật đều ăn cây cỏ, chứ không ăn thịt. Các loài cây tự chúng đã là một lời chứng cho sự sáng tạo kỳ tài của Đức Chúa Trời. Chúng bắt nguồn từ một hạt giống, rồi lấy đất, nước, không khí cùng ánh sáng mặt trời mà cho ra các bông hồng, cao su, quả đại hoàng (rhubarb)! Và những nhà máy diệu kỳ này chẳng những không làm ô nhiễm môi trường, mà chúng còn lặng lẽ làm sạch bầu không khí và bổ sung thêm vào đó khí ôxy cung cấp cho sự sống. Ôi! Những kỳ quan của Thượng Đế trong sự sáng tạo thật đẹp đẽ làm sao! Chỉ sau khi cơn lũ xảy ra Đức Chúa Trời mới cho phép ăn thịt: “Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh ” (Sáng thế ký 9:3). Chẳng có gì ăn thịt mấy con khủng long trước cơn lũ, và chúng lại có nguồn thực vật hào phóng làm thực phẩm. Vì thế chúng có thể phát triển đến những kích thước khổng lồ trong suốt khoảng thời gian sống dài đến hàng trăm năm. Ngay cả con Tyrannosaurus rex cũng ăn cây cỏ trước cơn lũ, chứ không ăn thịt các loài khủng long khác. Các hình ảnh trong sách giáo khoa về việc con khủng long này đang ăn thịt những loài khủng long khác là không dựa vào phương pháp khoa học và không hề có những thông tin xác thực nào chứng minh điều đó. Cái răng dài từ 3 đến 5 inch của con Tyrannosaurus rex lại có chân răng quá ngắn để có thể đáp ứng nhu cầu xé thịt, hay những bữa ăn có xương. Tyrannosaurus rex có khả năng lớn nhất là một loài ăn cây cỏ (ít nhất là trước trận lụt thời Nô-ê, 1:29-30) và đã dùng những chiếc răng dài của nó để tuốt lá ra khỏi cành cây. Sau trận Đại Hồng Thủy, những loài bò sát này không thể phát triển lớn đến như thế nữa. Áp suất khí quyển thấp hơn (màn hơn nước nặng nề đã rơi xuống thành mưa trong trận lụt), nhiệt độ trung bình thấp hơn và các loài động vật ăn thịt sẽ góp phần ngăn chặn những dạng sống quá lâu cũng như những loài có kích thước quá lớn.

Bạn có biết rằng chưa hề có bao giờ tồn tại một loài khủng long gọi là “Brontosaurus” không? Brontosaurusa đã đánh lừa cả cộng đồng khoa học trong nhiều, rất nhiều năm. Nó có cái đầu của sinh vật này và cái thân của sinh vật khác. Cộng đồng tiến hóa hết sức bỡ ngỡ khi phải thừa nhận rằng đó là một sai lầm trong hơn 50 năm. Brontosaurus không xuất hiện trong hầu hết các sách giáo khoa.

Những năm gần đây, một số nhà tiến hóa đã công bố rằng khủng long là loài động vật máu nóng, chứ không phải là loài máu lạnh. Người ta đã đưa lên quan điểm này vì các khoa học gia đã nhận ra rằng những động vật 300.000 cân Anh không và không thể tồn tại trong môi trường của chúng ta. Áp suất không khí không đủ để giúp máu của nó lưu thông dễ dàng. Bằng một cách nào đó, một biến cố thật đã thoát ra khỏi sự chú ý của những nhà tiến hóa này (hay họ đã “có ý quên lửng,” IIPhi-e-rơ 3:5). Sự thật là những con bò sát khổng lồ sẽ chẳng gặp vấn đề gì khi sống trong bầu không khí ấm áp và có áp suất khí quyển cao hơn, hệ thống #1. Những loài to lớn trở nên tuyệt chủng sau trận Đại Hồng Thủy. Về phương diện chính trị, đối với một nhà tiến hóa, nếu tin rằng trận lụt toàn cầu vào thời Nô-ê đã thực sự xảy ra là một điều không đúng. Niềm tin nơi trận lụt sẽ là cơ sở để đuổi việc hay hủy bỏ những quyền lợi của bạn. Thế nên nhà tiến hóa buộc phải nghiên cứu “Bí Mật Của Con Khủng Long Khổng Lồ,” trong khi một nhà sáng tạo lại có một vị trí thích hợp, đầy đủ chứng cứ khoa học thực nghiệm - sự khác biệt về môi trường sống giữa hệ thống #1 và #2.

Các nhà tiến hóa đã lý thuyết hóa rằng những con khủng long máu nóng sẽ giải quyết tình trạng tiến thoái lưỡng nan của họ, nhưng cuộc nghiên cứu gần đây xác định rằng những con bò sát khổng lồ là loài máu lạnh cũng giống như tất cả những con bò sát ngày nay. Tờ Tin Tức Dallas Buổi Sáng (The Dallas Morning News) ngày 21/3/1994 đã ghi lại rằng những nhà cổ sinh vật học thuộc trường đại học Pennsylvania đã công bố quan điểm của họ (trong tạp chí Tự Nhiên ) rằng...“khủng long...có lẽ là loài máu lạnh...” Đây là một cú đấm vào giấc mơ giải quyết bí mật của những sinh vật khổng lồ này! Dĩ nhiên, nếu bạn chờ một vài ngày, một khoa học gia tiến hóa nào đó sẽ phủ nhận lời tuyên bố của đồng nghiệp anh ta. Các nhà tiến hóa cứ đưa đẩy tư tưởng “máu nóng,” “máu lạnh” này qua lại với nhau. Tờ Tin Tức Dallas Buổi Sáng vào 11/07/1994 đã đăng một bài phê bình của nhà khoa học Matt Crenson trong tờ tạp chí Tự Nhiên vào tháng 6/1994. Bài phê bình đó được lược trích như sau: “Tyrannosaurus rex có một thân nhiệt ổn định, một cuộc nghiên cứu mới cho thấy loài ăn thịt khổng lồ này là một loài máu nóng.

Reese E. Barrick và William J. Showers thuộc trường đại học Bắc Carolina tại Raleigh đã nghiên cứu những xương của con Tyrannosaurus rex trong đá tại Hell Creek Formation ở phía đông Montana...

Độ rắn chắc đáng kể của những đồng vị ôxy trong các xương của con khủng long cho thấy rằng thân nhiệt của nó chẳng bao giờ dao động hơn khoảng 7oF, những nhà nghiên cứu Bắc Carolina đã viết tuần qua trong tờ Tự Nhiên. Nếu thời điểm những con Tyrannosaurus rex sống tại Montana là khoảng 70 triệu năm trước đây, như chúng ngày nay (được tìm thấy), một động vật với thân nhiệt ổn định như thế phải là một động vật máu nóng.”

Một nhà sáng tạo có thể nói rằng thân nhiệt ổn định của một con bò sát khổng lồ là phù hợp với quan điểm sáng tạo, tức là nhiệt độ trái đất ấm áp không đổi trong hệ thống trời và đất nhiệt đới #1. Các nhà sáng tạo mong chờ khám phá “...độ rắn chắc đáng kể của những đồng vị ôxy trong các xương của con khủng long...” Rõ ràng là những nhà nghiên cứu tiến hóa này đã phịa ra rằng những con bò sát máu lạnh thật sự là loài máu nóng hơn là xem xét khí hậu ấm áp khắp trái đất do hiệu ứng nhà kính trước cơn lũ (6.000 năm trước, chứ không phải 70 triệu năm) như đã được trình bày là thuyết sáng tạo.

Những loài bò sát khổng lồ biết bay như những con thằn lằn bay (những con thằn lằn ngón cánh và những con pteranodons) sẽ không thể bay được trong bầu khí quyển của chúng ta. Chúng cần một áp suất không khí nặng hơn để có thể tạo đủ lực nâng giúp nó bay lên với đôi cánh dài từ 40-50 bộ (khoảng từ 13 đến 17 m). Hệ thống trời đất #1 đã cung cấp một áp suất đủ lớn cho các loài động vật khổng lồ này bay lượn. Đối với một nhà sáng tạo, điều này chẳng là vấn đề gì cả. Hệ thống trời đất #1, trước khi màn hơi nước rơi xuống như mưa và gây nên lũ trong thời Nô-ê, ắt hẳn đã cung cấp một bầu khí quyển dày đặc cho những sinh vật khổng lồ này bay lượn. Để bảo vệ công việc của họ, những nhà tiến hóa không dám (ngay cả) đề cập đến cơn lũ trong thời Nô-ê như là một giải pháp cho những vấn đề của họ, thế nhưng chính cơn lũ lại cho chúng ta lời giải thích cho những gì chúng ta “thấy.” Ngay cả trong những sách lịch sử cũ của chúng ta về những nền văn hóa cổ xưa cũng có nói về một trận lụt toàn cầu.

Những thân hình khổng lồ là rất phổ biến trong bầu khí quyển nặng hơn trước cơn lũ. Các hóa thạch của những con chuồn chuồn với đôi cánh dài đến 32 inch (80 cm) đã được tìm thấy và một con bọ to đến đáng ngờ có thể làm vỡ kính chắn gió của xe bạn! Những con tê giác không sừng phát triển đến khoảng “...17 bộ (khoảng 5,7 m) về chiều cao và gần 30 bộ (khoảng 10 m) về chiều dài!” (Unlocking the Mysteries of Creation , Petersen, trang 28, 29). Những con hổ răng kiếm khổng lồ, những con voi răng mấu và những con voi ma-mút đầy lông đã cùng gầm rống bên cạnh những con khủng long to xác, dềnh dàng.

Con người cũng đã sống suốt thời đại của những con khủng long. Trong vỉa đá kỷ Creta dưới đáy dòng sông Paluxy gần Glen Rose, Texas, những dấu chân người và dấu chân khủng long bắt chéo nhau đã được tìm thấy. Người ta đã nói nhiều về những dấu chân này vì, nếu là thực, chúng chứng minh rằng người và khủng long đã sống cùng một thời đại với nhau. Nếu chấp nhận nó là thật, đó sẽ là một bằng chứng hóa thạch mạnh mẽ đánh đổ tiến hóa. Chúng là bằng chứng cho thấy rằng tiến hóa là sự suy đoán sai lầm của con người! Hầu hết các sách giáo khoa dạy rằng loài khủng long bị tuyệt chủng khoảng 60-70 triệu năm trước khi con người xuất hiện và để lại dấu tích của mình. Dấu chân khủng long và người đan chéo nhau trong cùng một vỉa đá đã đánh đổ niềm tin tiến hóa cho rằng con người tiến hóa trải qua hàng triệu năm từ những tổ tiên bò sát của họ!

Hai khoa học gia người Texas đã cắt dọc (cắt đá ra thành từng lát - ND) một trong những dấu chân đó của con người. Carl Baugh và Don Patton khám phá ra rằng lớp đá dưới dấu chân cho thấy những kết cấu áp suất (pressure structures) (gọi là sự dát mỏng - lamitation). Những kết cấu áp suất này chính xác là những điều mà các khoa học gia muốn tìm kiếm xung quanh một dấu chân người. Những dấu chân người (có rất nhiều) đã không được “khắc” dưới lòng sông và cả những dấu chân khủng long cũng vậy (có nghĩa là những dấu chân người và khủng long được tìm thấy là những dấu chân thật, là bằng chứng của lịch sử cho sự đồng tồn tại của người và khủng long trong cùng một thời đại - ND).
khunglong-2

Mùa hè năm 1993, tiến sĩ Patton và Baugh chú ý đến những dấu chân dài 11,5 inch (khoảng 28 cm) (ngày nay người ta cũng có bàn chân dài đến như vậy) bước dọc - trái, phải, trái, phải - trong lòng một dấu chân 3 ngón của con khủng long. Một ai đó đã đang rảo bộ trong những dấu chân của con khủng long vừa hằn lên lớp bùn mềm! Một trong số những dấu còn lại trên đá cho thấy dấu chân con người ở bên cạnh dấu chân con khủng long. Rõ ràng người đó đã bước theo bên cạnh dấu chân con khủng long và rồi bỏ sót một dấu chân, nhưng anh ta lui lại, bước vào dấu chân đó và rồi tiếp tục bước đi. Những dấu chân này là bằng chứng đầy sức thuyết phục, cứng rắn và có thể khảo sát được cho thấy rằng con người và khủng long đã cùng sống với nhau trên đất trong cùng một khoảng thời gian. Tờ Nhân Văn (Humanist) đã tuyên bố nghi ngờ những dấu chân tìm thấy tại dòng sông Paluxy này để khiến cho những nhà sáng tạo phải rút lại các bài báo và phim ảnh của họ (một phim tài liệu rất hay là Những Dấu Chân Trong Đá - Footprints in Stone). Mùa hè 1993, công việc của tiến sĩ Baugh và Patton buộc phải quay sang một hướng khác. Liên lạc với tiến sĩ Don Patton thì sẽ biết một chuyện không tưởng nổi đó là một vài dấu chân (không phải tất cả) đã bị phá hủy bởi một nhà tiến hóa thái quá cố gắng “...triệt khử sự thật...”

Châm ngôn 14:12 có chép: “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người, nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết .” Những nhà tiến hóa đã đến Glen Rose, Texas và kiểm tra những dấu chân người và khủng long bên cạnh nhau hoặc chồng chéo lên nhau trong vỉa đá kỷ Creta, và họ đặt ra những suy đoán rồ dại hơn là quỳ gối xuống, cúi đầu thờ lạy Đấng Tạo Hóa của họ, Đấng nói với chúng ta rằng những con khủng long và người cùng xuất hiện với nhau vào ngày thứ sáu trong tuần lễ sáng tạo! Kinh Thánh dạy rằng con người và khủng long cùng chia sẻ một quả đất trong cùng một thời điểm (Sáng thế ký 1:1-31). Điều này chẳng có gì khó khăn vì những sinh vật khổng lồ này chỉ toàn ăn thực vật trước cơn lũ! Trong những ngày đầu tiên của kỳ sáng tạo, Đức Chúa Trời ngăn không cho các thú vật ăn thịt lẫn nhau cũng như ăn thịt con người vì mục đích của Ngài là làm đầy dẫy đất bởi chính những sinh vật này.

Một bằng chứng khác ủng hộ cho sự thật là khủng long và người đã cùng chung sống với nhau trong lịch sử là những bức vẽ hang động về khủng long. Làm thế nào mà một “người tiền sử” (nam hay nữ) có thể vẽ một bức tranh về khủng long nếu người đó chưa bao giờ thấy nó? Viện Nghiên Cứu Sáng Tạo (The Institute for Creation Research - ICR) đã lưu hành một cuộn băng video tuyệt vời ghi lại những bức vẽ trong hang động về khủng long.

ĐỜI SỐNG TRƯỜNG THỌ

Một ảnh hưởng khác của việc nước (dạng hơi) ở trên khoảng không đó là nó sẽ tạo nên một lớp chắn chống lại bức xạ vũ trụ (cosmic radiation). Các khoa học gia đã nghiên cứu việc làm thế nào nước lại có thể lọc bức xạ mặt trời. Những kết luận của họ được ghi trong cuốn sách của tiến sĩ Joseph Dillow, The Waters Above: Earth’s Pre-Flood Water Vapor Canopy . Trong hệ thống trời và đất #1, người ta có thể sống rất lâu. Một trong những tác nhân nguyên thủy của việc trường thọ là bức xạ mặt trời. Bởi việc lược bỏ những tia bức xạ có hại (như lớp màn hơi nước đã làm), con người có thể sống gần 1.000 năm.

Kinh Thánh ghi lại rằng A-đam qua đời năm 930 tuổi và Mê-tu-sê-la sống gần 1.000 năm. Sau cơn lũ, tuổi của con người giảm xuống còn trung bình khoảng 70-80 năm. Nhiều người nghĩ rằng bạn không thể tin Kinh Thánh khi có lời chép rằng con người sống được 800 hoặc 900 tuổi hoặc hơn - rằng đó ắt hẳn là một loại năm (cách tính thời gian - ND) nào khác hoặc là tác giả chẳng biết mình đang nói gì. Đó là những năm có 360 ngày như Kinh Thánh đã chép (so sánh 7:11 và 8:3, 4) (_). Bạn có thể tin vào những điều Kinh Thánh viết. Một số nhà nghiên cứu ngày nay, những người nghiên cứu sự trường thọ tin rằng bây giờ con người có vẫn thể sống lâu như vậy nếu được bảo vệ khỏi những ảnh hưởng có hại của mặt trời và bầu không khí ô nhiễm hiện nay.

Sự bảo vệ khỏi những tác hại từ mặt trời của lớp màn hơi nước trên bầu khí quyển cũng ảnh hưởng đến những kỹ thuật tính niên đại. Một lượng không đáng kể C14 chắc chắn đã hình thành trước cơn lũ. Điều đó có nghĩa là kỹ thuật tính niên đại bằng C14 hoàn toàn không có giá trị sau khoảng 5.000 năm hoặc hơn. Chúng ta sẽ bàn nhiều hơn về kỹ thuật tính niên đại.

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Con Hải Ly

conhaily-1
Con hải ly là một loài vật khác được sáng tạo cách độc nhất vô nhị và hết sức kỳ diệu. Những điều dưới đây được sao chép từ tờ Creation Ex Nihilo số 15, tháng 3-5/1993, trang 38-41. Hy vọng rằng bạn sẽ thấy giá trị của những lời mô tả từ tạp chí sáng tạo này khi bạn đọc lời của một tác giả mà cũng là một khoa học gia, Denis Dreves:

Con hải ly: Kiến trúc sư dưới nước “Bản năng xây dựng các đập nước của con hải ly đã được biết đến nhiều rồi, nhưng con hải ly còn có những đặc điểm được Đức Chúa Trời thiết kế cách hết sức kỳ lạ trong cơ thể của nó. Những con hải ly là loài động vật có vú thở không khí, lại sống phần lớn thời gian dưới nước. Vì lý do đó, nó cần phải được trang bị đặc biệt.

Trước hết, con hải ly có những cái van rất đặc biệt trong lỗ tai và lỗ mũi của nó. Khi nó lặn xuống dưới nước, những cái van đó tự động đóng lại và nước không thể tràn vào. Khi con vật nổi lên mặt nước, các cái van mở ra và nó bắt đầu thở trở lại.

Có lẽ một “thiết bị” đáng ngạc nhiên nhất mà nó có chính là những mí mắt của mình. Nếu bạn đã từng lặn hay bơi với một ống thở, bạn sẽ biết rằng nước và những chất trong nó có thể kích thích đôi mắt của bạn và cuốn mất chất bôi trơn tự nhiên (do mắt tiết ra). Không những thế, mắt của bạn cũng chẳng thể nhìn tốt dưới nước. Đó là lý do tại sao những người bơi với một ống thở thường mang thêm kính bảo hộ.

Có phải chúng ta là người đầu tiên nghĩ đến kính bảo hộ không?

Không! Đức Chúa Trời đã sáng tạo con hải ly với một cặp kính bảo hộ “bên trong.” Các mí mắt của chúng trong suốt, vì thế chúng có thể nhắm mắt lại dưới nước mà vẫn nhìn tốt. Chính những mí mắt trong suốt của chúng đã bảo vệ mắt chúng khỏi những chất gây nhiễm trùng có trong nước.

Suốt mùa đông, những con hải ly phải ăn các vỏ cây mà chúng đã cắt và cất giữ trong suốt mùa hè bằng cách dùng những cái răng cửa được tạo nên vừa đặc biệt, vừa bén (có lẽ đây là một “trang thiết bị” khác vốn nổi tiếng của con hải ly).

Những con hải ly thu lượm các cây nhỏ (thường khoảng 2 - 5 cm (1 - 2 inch) đường kính) để làm thức ăn, cắt chúng ra thành những đoạn thích hợp và di chuyển chúng, bằng cách dùng răng cắn, về nơi trữ lương thực dưới nước, đẩy các khúc cây xuống bùn tận dưới đáy ao.

Một thiết kế kỳ diệu

Điều đó đưa chúng ta đến một nét đặc biệt kỳ lạ khác. Để tìm lại những thực phẩm đã cất giữ và dùng trong suốt những tháng mùa đông, lúc băng phủ kín cả mặt ao, con hải ly cần phải nhai những khúc cây dưới mặt nước. Chúng có thể làm được việc này mà nước không chảy vào miệng, vì chúng có những “nắp bịt miệng bằng lông” (flur mouth flaps) giữa hai cái răng cửa và những cái răng hàm phía sau, nằm ở tuốt đằng sau. Hai nếp gấp bằng da này, mỗi cái nằm ở một bên miệng, khít nhau ở giữa hai răng cửa và bịt kín phần còn lại của miệng.

Cái đuôi lớn hình mái chèo của con hải ly, có một lớp da như vảy phủ bên trên, được dùng như một bánh lái trong khi bơi. Điều này đặc biệt quan trọng khi nó bơi với một khúc cây trong miệng. Cái đuôi phải giữ thăng bằng cho khúc cây, vì thế cái đuôi luôn được giữ ở một góc lái chính xác.

Chân sau của con hải ly lớn và có màng giống chân của con vịt, và điều này khiến cho con vật bơi rất giỏi. Hai cái vuốt ở phía trong mỗi bàn chân có những cái móng chân bị nứt ra, mà con hải ly dùng giống như một cái lược để chải chuốt mình và thấm dầu cho lông nó. Con hải ly dùng hai chân trước nhỏ hơn, và không có màng của mình để mang bùn và các thứ khác, cũng như đào kênh mà chúng dùng như một phương tiện di chuyển gỗ cũng như để thoát thân khỏi những kẻ thù.

Lông của con hải ly cần phải được tẩm dầu để ngăn không cho nước thấm vào da nó. Dầu được tiết ra từ những tuyến dầu lớn. Chúng luôn căng đầy một chất lỏng nhờn nhờn màu vàng sẫm mà con hải ly dùng để phủ lên lông của mình nhằm chống thấm. Chất này, cùng với hai lớp lông, có tác dụng rất hiệu quả đến nỗi nước hiếm khi thấm được đến da. Một lớp mỡ dày dưới da sẽ bảo vệ nó khỏi bị lạnh.

Một con hải ly có thể bơi liên tục 800 m (nửa dặm) dưới mặt nước (mà không ngoi lên thở - ND) hoặc hơn. Hầu hết những động vật thở ôxy sẽ bị những ảnh hưởng bất lợi đến não do thiếu ôxy. Con hải ly có một bộ phận đặc biệt giúp bồi đắp nhu cầu của nó. Những lá phổi lớn và gan cho phép chứa được nhiều không khí và máu tươi hơn. Thêm vào đó, nhịp tim của con hải ly trở nên chậm hơn khi nó lặn để giữ ôxy, và máu bị giữ lại trong đầu của nó trong khi nguồn cung cấp sự sống cho não vẫn duy trì bình thường.

Những bản năng sáng chế

Những con hải ly xây các đập nước có thể dài đến hàng trăm mét. Việc xây đập được làm bằng cách cắt cây và các bụi rậm xuống, kéo từng phần đến chỗ cái đập, và đặt chúng vào nước, song song với dòng chảy (một đầu hướng ngược dòng). Hầu như mọi thứ gì con hải ly tìm được, nó cũng mang đến để xây đập - gỗ tươi, gỗ khô, bùn, cỏ, và đá. Đến lúc nào đó, khi nước trong hồ của con hải ly dâng cao và có nguy cơ làm vỡ đập, và để ngăn chặn điều này, nếu có thời gian, con hải ly xây một cái đập tràn để làm giảm bớt áp lực nước, rồi sửa nó sau khi nước đã rút xuống.

Nơi ở của con hải ly cũng là kiệt tác của một nhà xây dựng bậc thầy. Chúng được xây dựng bằng các thanh gỗ, và chống cái lạnh bằng bùn. Phần chính giữa mái nhà không được bít lại để còn chừa chỗ thông gió. Ngõ vào chỉ có ở dưới nước mà thôi, và nó làm nhiều ngõ ra vào phòng trường hợp phải trốn thoát. Con hải ly có thể chạy thẳng đến ngõ vào nơi trữ lương thực làm bằng các thanh gỗ trong khi mặt nước hồ đã đông cứng trong mùa đông, và đây là nguồn thực phẩm duy nhất cho nó trong mùa này.

Thật, con hải ly là một bằng chứng tuyệt vời khác cho sự thông sáng và diệu kỳ của Đấng Tạo Hóa. Những trang thiết bị khác biệt và cần thiết đó không thể tiến hóa từ sự ngẫu nhiên cộng với thời gian qua quá trình chọn lọc tự nhiên được. Tất cả những bộ phận cơ thể con hải ly phải hoạt động đúng chức năng của nó ngay từ ban đầu thì nó mới có thể sống sót và sống lối sống nửa trên cạn, nửa dưới nước (semi-aquatic).”

 

tiếp theo bấm trang 8 ở trên...

P8

 

SỰ TAN BIẾN CỦA LỚP MÀN HƠI NƯỚC

circle_of_life
Đ
iều gì có thể đã khiến cho lớp màn hơi nước rơi xuống thành mưa? Có nhiều giả thuyết đã được đề ra, dầu vậy, dĩ nhiên là Đức Chúa Trời chẳng cần đến một nguyên nhân tự nhiên nào; Ngài chỉ cần dùng quyền tể trị của mình, cất tiếng phán và thế là mưa rơi xuống gây lũ lụt khắp địa cầu.

Một ý tưởng được đề ra về sự kết tủa hơi nước tạo thành mưa là do một thiên thạch rơi xuống trái đất, làm bắn lên không trung rất nhiều đám mây bụi và chúng hòa vào trong hơi nước. Các hạt bụi làm trung tâm cho sự ngưng tụ để hình thành những giọt mưa và thế là lớp màn hơi nước rơi xuống. Cùng với ý tưởng này là một ý kiến cho rằng việc trái đất đã bị nghiêng 23,5o do vụ nổ thiên thạch gây ra đã tạo nên hai đầu cực băng giá và bốn mùa.

Một giả thuyết khác cho rằng một số lượng lớn các núi lửa bùng nổ cùng một lúc khắp cả trái đất, và tro bụi núi lửa đã làm ngưng tụ hơi nước thành giọt và mưa đã rơi xuống. Có lẽ tất cả những biến cố địa chất này đã xảy ra cùng một lúc - thiên thạch chạm vào trái đất, làm rạn nứt bề mặt trái đất, và từ đó hình thành việc phun trào của hàng loạt núi lửa.

Nếu đã có hoạt động núi lửa vào thời điểm của cơn lụt, thì bụi núi lửa phải được tìm thấy trong những lớp băng lâu đời và sâu cũng như những tạp chất bị đông cứng (frozen muck). Ở cực nam và cực bắc, những phiến băng già nhất và những tạp chất bị đông cứng có đầy dẫy tro bụi núi lửa. Lập trường sáng tạo đã đứng vững.

Một sự gia giảm nhiệt độ đột ngột và lâu dài từ một môi trường với hiệu ứng nhà kính khắp trên bề mặt trái đất (hệ thống trời và đất #1) sang một môi trường mà hai đầu cực phủ băng, nhiệt độ thì trung bình (hệ thống trời và đất #2) đã xảy ra suốt thời gian lớp màn hơi nước bị tan biến và cơn lũ. Năm 1893, chỉ một ngọn núi lửa bùng nổ thôi, ngọn Krakatau, đã làm giảm nhiệt độ trung bình toàn cầu xuống 5 độ trong vòng một năm. Tro bụi từ ngọn Krakatau bắn lên cao đến 30 dặm trong bầu khí quyển và một loạt những con sóng thủy triều dâng cao đã cuốn qua các đại dương với độ cao cao nhất là 120 bộ (khoảng 40 m). Con sóng cao không ngờ này đã quét sạch nhiều dặm sâu trong đất liền tại Java và Sumatra.

Nếu tro bụi của một núi lửa có thể làm giảm nhiệt độ của cả trái đất xuống trong cả một năm, thế thì cảnh hỗn loạn và những biến cố địa chất tạo nên do hàng trăm những núi lửa phát nổ cùng một lúc sẽ ra thế nào? Phải chăng Kinh Thánh đã mô tả hoạt động núi lửa diễn ra vào ngày thứ 17 của tháng thứ 2 không: “...chánh ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra,. ..” (Sáng thế ký 7:11)? Đây là ngày đầu tiên của sự tụt giảm nhiệt độ đột ngột và lâu dài, mà những ảnh hưởng của nó chính là bằng chứng cho điều này.

Tờ Tin Tức Khoa Học (Science News) tháng 6/1991 đã chạy hàng tít như sau:

“NÚI LỬA CÓ THỂ LÀM LẠNH KHÍ HẬU, LÀM GIẢM ÔZÔN”

Bài báo đó khẳng định: “Vụ nổ ngọn Pinatubo có thể làm cho trái đất lạnh thêm một chút trong vài năm sau đó và thúc đẩy sự hư hại của tầng ôzôn trên nhiều vùng rộng lớn của thế giới...” (trang 7). Khoa học có từ gọi là Vành Đai Lửa. Vài ngàn năm trước, các núi lửa đã phát nổ một lượt khắp trên thế giới. Điều gì khiến xảy ra biến cố địa chất lớn này? Đây có thể là ngày thứ 17 của tháng thứ 2 chăng?

NHỮNG CON VẬT BỊ ĐÔNG CỨNG NHANH CHÓNG

Khoa học tiến hóa không có câu trả lời nào cho sự tồn tại của nhiều con vật bị đông cứng nhanh chóng được tìm thấy ở nhiều nơi quanh địa cầu. Trong số những con vật bị đông lạnh này có những con tê giác, linh cẩu, bò, hổ răng kiếm, hà mã, bò rừng bizon, lừa, báo, dê rừng, và những con ma mút đầy lông khổng lồ. Con tê giác bị đông cứng đang làm gì ở Siberia? Phải chăng nó đang nghỉ hè, và trước khi kịp trở về Châu Phi, thì nó bị đông cứng trong trận bão tuyết? Không, có những loài động vật nhiệt đới sống ở Siberia trước cơn lũ trong thời Nô-ê! Lúc đó, trái đất là một nhà kính từ cực này đến cực kia do tác động của màn hơi nước. Điều này gây nên một vấn đề căng thẳng cho những nhà tiến hóa. Điều gì xảy ra khi đó đã nhanh chóng làm đông cứng các động vật và cây cỏ nhiệt đới ở Siberia? Không có con nào trong số những “hóa thạch” đông cứng này là những động vật đang ở dạng sống chuyển đổi. Tất cả những con vật rất cổ xưa này đều là những loài phân biệt. Chúng dễ dàng phân biệt và cũng rất dễ phân loại như bò và voi ma mút chẳng hạn. “À,” những nhà tiến hóa nói, “chắc chắn phải có một thời kỳ băng hà chậm chạp đi qua và làm những con vật này bị đông cứng lại.”

Những động vật bị đông cứng còn lại không chứng minh điều gì về thời kỳ băng hà cả. Chúng đã bị bắt và bị đông lạnh vĩnh viễn (vẫn còn đông lạnh mãi cho tới ngày hôm nay) với một tốc độ nhanh không tưởng được đến nỗi những cây cỏ chưa tiêu hóa vẫn còn trong mồm và trong bao tử chúng vẫn còn chất dịch tiêu hóa. Con ma mút khổng lồ nặng 9 tấn đã được khám phá cùng với những cây mao hương hoa vàng (buttercup) trong mồm và trong bao tử của nó, người ta vẫn còn phân biệt được các loài thực vật mà nó đã ăn vào!

Cái gì diễn ra đã làm đông cứng nhanh chóng một con ma mút 9 tấn tươi vui, khỏe mạnh đang gặm những cây mao hương hoa vàng (và vài trăm loài thực vật phân biệt khác vốn không còn mọc trong khí hậu giá lạnh nơi mà con ma mút được tìm thấy)? Một số nhà khoa học đã tìm đến một công ty đông lạnh thực phẩm và đặt câu hỏi này. Câu trả lời không phù hợp với những thực tế đã biết trong hệ thống trời và đất #2 (hệ thống hiện tại của chúng ta). Để đông lạnh cách nhanh chóng một động vật máu nóng nặng 9 tấn đang nhai cây mai hương hoa vàng thì phải có một nhiệt độ là -175oF (-79,5oC) (nhiệt độ lạnh nhất đã từng được ghi nhận trên trái đất là -128oF (-53,3oC)), với tác nhân làm lạnh bằng gió thì cần ngọn gió với tốc độ 200-400 dặm một giờ, thổi liên tục trong khoảng 4 giờ đồng hồ liền (8 tiếng đồng hồ tại giới hạn bên ngoài). Vấn đề là ở chỗ không có gì trên đất có thể đạt đến những điều kiện cần thiết để đông lạnh các con vật - thế nhưng chúng đã bị đông lạnh. Để bảo vệ thịt và các loại thực vật chưa tiêu hóa, những điều kiện mạnh mẽ chưa từng được biết đến trên trái đất hiện tại của chúng ta có thể đã từng tồn tại để làm chúng đông cứng lại. Việc đông cứng của các loài thực vật và động vật này không hề chịu tác động của  thời kỳ băng hà.

Nhiều sách giáo khoa có in một bức tranh tưởng tượng của một họa sĩ về con voi ma mút đang đứng trong một trận bão tuyết chậm chạp tiến tới từ phía sau. Đây chỉ là sự tưởng tượng, chứ không phải thực tế. Những con ma mút là loài động vật máu nóng, ăn những thực vật vùng khí hậu ấm áp trong một vùng khí hậu ấm áp thì thình lình, trong một vài giờ, đã trở nên đông cứng vĩnh viễn. Một dữ kiện thú vị khác về những con ma mút đã được M. L. Ryder ghi lại:

“Sự hiếm muộn của lông trên loài voi hiện đại có quan hệ tới sự gấp nếp của những biểu bì, và sự thiếu hụt những tuyến dưới da. Dầu vậy, con ma mút cũng...thiếu các tuyến dưới da, việc có nhiều lông lại liên hệ đến việc mất đi sự gấp nếp của biểu bì... Những lát cắt song song với bề mặt da cho thấy những sợi lông không có chân, tròn và dễ rụng, không có các tuyến hay cơ” (Nature, số 249, ra ngày 10/05/174, trang 190-191).

Lớp da ma mút đã được phân tích kỹ và, thật ngạc nhiên đối với những nhà tiến hóa, nó không có những tuyến nhờn. Tại sao đây lại là điều ngạc nhiên? Vì loài động vật sống ở nơi nhiệt độ thấp thì có rất nhiều tuyến tiết ra dầu để làm ẩm và bôi trơn cho lông của chúng. Chó sói, gấu bắc cực, và hải cẩu có những bộ lông luôn thấm dầu đến nỗi nước lạnh giá ở miền bắc chảy tròn trên lông của chúng mà không thể thấm vào da. Động vật sống ở những nơi lạnh giá cần rất nhiều dầu để bảo vệ chúng khỏi bị lạnh vì ướt. Một con ma mút sẽ không thể sống lâu trong vùng khí hậu lạnh mà lại không có dầu trên lông của chúng. Nó là một loài động vật sống ở vùng khí hậu ấm áp và ăn những thực vật cũng sống ở vùng khí hậu ấm áp và thình lình bị đông cứng lại cách nhanh chóng từ chốn xa xôi nào đó trong quá khứ. Tiến hóa chẳng có câu trả lời nào cho vấn đề này! Một thời kỳ băng hà lâu dài không cung cấp đủ lời giải thích cho những con vật bị đông cứng nhanh chóng này - nhưng một biến cố địa chất cỡ như thế sẽ gây nên sự tan biến của lớp màn hơi nước trong cơn lũ vào thời Nô-ê và cung cấp lời đáp cũng như những bằng chứng cho vấn đề.

Một loài động vật không có các tuyến dầu dưới da thì không thể sống sót trong vùng khí hậu lạnh giá. Nhưng một loài động vật có tuyến dầu dưới da có thể sống sót cả trong vùng khí hậu lạnh lẫn vùng khí hậu nóng ấm. Những con báo có các tuyến dầu dưới da và có thể sống trong những vùng có khí hậu nhiệt đới. Da của chúng được dùng làm những chiếc áo choàng mặc rất ấm vào mùa đông. Gấu bắc cực có thể sống sót trong những sở thú trong cái nóng rất nóng của miền nam.

Những con ma mút này (và nhiều con vật khác) đã bị đông cứng nhanh đến nỗi thịt của chúng vẫn còn có thể ăn được.“Trong nhiều trường hợp, như ta đã biết, toàn bộ các xác của những con ma mút đã được phát hiện bị chôn vùi như thế, với lông, da và thịt còn tươi rói như miếng thịt cừu đông lạnh New Zealand trong lò hấp. Và những con chó kéo xe, cũng như chính những con Yakut, đã thường có những bữa ăn thịnh soạn đầy những thịt ma mút hàng ngàn năm tuổi” (Mammouth Ivory, tiến sĩ Joseph Dillow, 1899).

Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột và lâu dài này từ một ngôi nhà kính sang hai địa cực đóng băng vĩnh cửu có thể đã xảy ra trong suốt quá trình tan biến của lớp màn hơi nước trong lần đoán phạt bằng nước lụt của Đức Chúa Trời vào thời Nô-ê. Điều kiện đông lạnh, do sự tan biến của lớp màn tạo điều kiện cho nhiệt độ thoát khỏi bầu không khí của chúng ta, đã gìn giữ cho chúng ta những dạng sống động và thực vật (ngày nay đã tuyệt chủng) đã từng tồn tại trong hệ thống trời và đất #1. Tiến hóa chẳng có câu trả lời nào cho sự chết đột ngột của những con vật bị đông lạnh. Kinh Thánh sẽ đưa chúng ta đến chỗ tin rằng những điều này đã xảy ra vào trận lụt hủy diệt của hệ thống #1.
Kinh Thánh cho chúng ta lời cảnh báo trong Cô-lô-se 2:8: “Hãy giữ chừng, kẻo có ai lấy triết học và lời hư không, theo lời truyền khẩu của loài người, sơ học của thế gian, không theo Đấng Christ, mà bắt anh em phục chăng.”

Tiến hóa là một hệ thống triết học và là một quan niệm trống rỗng. Các Cơ Đốc nhân không nên để cho tiến hóa nắm bắt mình - chẳng có khoa học thực nghiệm nào (khoa học không dựa trên những giả thuyết, xem chương 2) chứng minh kiểu tiến hóa từ phân tử tới người. Trong việc nghiên cứu các nguồn gốc (Từ đâu chúng ta tới?), chúng ta phải luôn ghi nhớ trong đầu rằng cả tiến hóa lẫn sáng tạo đều là những hệ thống niềm tin. Chúng ta đã để cho chính mình bị tẩy não khi tin vào cái gọi là thực tại khoa học chứng minh tiến hóa từ phân tử tới người là sự thật đã diễn ra. Không một ai ngoại trừ Đức Chúa Trời có ở đó khi vũ trụ được hình thành và sự sống xuất hiện. Chúng ta đừng để mình bị thay đổi trước hết là lòng thật thà sau là sự tinh sạch đối với Đấng Christ (IICô-rinh-tô 11:3).

“Ha-lê-lu-gia! Từ các từng trời hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hãy ngợi khen Ngài trong nơi cao cả ! Hỡi hết thảy các thiên sứ Ngài, hãy ngợi khen Ngài! Hỡi cả cơ binh Ngài, hãy ngợi khen Ngài! Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy ngợi khen Ngài! Hỡi hết thảy ngôi sao sáng, hãy ngợi khen Ngài! Hỡi trời của các từng trời, hỡi nước trên các từng trời, hãy ngợi khen Ngài! Cả thảy khá ngợi khen danh Đức Giê-hô-va, vì Ngài ra lịnh, thảy bèn được dựng nên” (Thi-thiên 148:1-5).

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Qủa Trứng Gà

trungga
Trứng gà đã thụ tinh quả thật là một sự sáng tạo kỳ diệu. Ngay cả trước khi nghĩ đến việc một con gà sẽ lớn lên từ trong một quả trứng như thế nào, cũng rất thú vị khi suy nghĩ về việc làm thế nào con gà mái đã thành công trong việc bọc một lớp vỏ quanh khối trứng lỏng, trơn đã thụ tinh. Ngay cả trên một nông trại lớn, việc đẻ một quả trứng mà không có vỏ (trứng non - ND) cũng là một chuyện hiếm hoi. Bạn có bao giờ thử bỏ một cái trứng trở vào vỏ của nó khi nó bị vỡ ra không?
Cái vỏ trứng thôi cũng đã được đặc biệt hóa cao độ. Mỗi vỏ trứng có khoảng 10.000 lỗ nhỏ xíu. Làm thế nào con gà đó có thể tạo nên một lớp vỏ bọc quanh khối trứng lỏng mềm nhũn và lộn xộn và tạo nên một lớp vỏ ở trạng thái rỗ (porosity - xốp, có nhiều lỗ nhỏ li ti)? Đặt quả trứng vào trong nước ấm, và chẳng bao lâu sau, bạn sẽ thấy những bọt khí nhỏ xíu nổi lên. Những bọt khí bên trong này thoát ra qua những lỗ nhỏ xíu trên vỏ quả trứng. Một con gà con đang phát triển cần những cái lỗ này để thở. Tiến hóa đòi hỏi phải có nhu cầu trước khi tổ chức sống bắt đầu tiến hóa và thay đổi. Làm thế nào một con gà mái biết rằng nó cần phải tạo nên một vỏ quả trứng có những lỗ nhỏ, và làm thế nào nó “sản xuất” ra được lớp vỏ đó? Con gà con thì không biết rằng nó cần phải có những lỗ nhỏ đó để thở cho đến khi nó chết vì thiếu không khí. Và những con gà đã chết chẳng tiến hóa gì hết.

Trong những ngày đầu tiên sau khi quả trứng được đẻ, các mạch máu bắt đầu phát triển bên ngoài con gà con đang lớn. Hai trong số những mạch máu đó bám vào lớp màng dưới vỏ trứng và hai mạch máu gắn vào lòng đỏ. Vào ngày thứ năm, trái tim nhỏ xíu bắt đầu bơm máu qua các mạch máu. Điều gì khiến những mạch máu này phát triển bên ngoài con gà con, và làm thế nào chúng biết phải nối vào đâu, và nối thế nào?

Con gà con được nuôi sống từ dưỡng chất trong lòng đỏ qua các mạch máu nơi lòng đỏ và thở qua những mạch máu nối một đầu nơi lớp màng. Nếu bất cứ cái nào trong số những mạch máu này không phát triển bên ngoài con gà hay không gắn vào đúng chỗ, con gà sẽ chết.

Con gà con thải ra CO2 và hơi nước khi nó trao đổi chất với lòng đỏ. Nếu nó không tống khứ CO2 và hơi nước đi, nó sẽ chết vì ngộ độc khí hoặc ngộp trong nước thải của chính mình. Những thứ cặn bã này được “thu lượm” bởi các mạch máu và thải ra ngoài qua những lỗ nhỏ trên vỏ trứng.

Đến ngày thứ 19, lượng ôxy thẩm thấu qua lớp vỏ đã không còn đủ cung cấp cho nhu cầu của con gà con nữa, vì nó đã quá lớn. Nó phải làm điều gì đó hoặc là chết đi. Làm thế nào nó biết được kế đó mình phải làm gì? Lúc này, một cái răng nhỏ gọi là “răng trứng” (egg-tooth) đã phát triển bên trên cái mỏ của nó. Nó dùng cái răng nhỏ xíu này khoét một lỗ nhỏ vào túi khí ở đầu lớn của quả trứng. Khi bạn lột một quả trứng đã luộc chín ra, bạn chú ý sẽ thấy lớp màng mỏng dưới cái vỏ ở đầu lớn của quả trứng. Ở đầu này, cứ như là con gà mái đã không lấp đầy hết vỏ quả trứng, là một túi khí. Túi khí chỉ cung cấp đủ khí cho con gà trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Thay vì nghỉ ngơi và thở cho sâu vào, vì đã có nguồn cung cấp khí dồi dào này rồi, con gà con vẫn tiếp tục khoét, cho đến khi nó đục được một lỗ hổng xuyên qua vỏ trứng để tiếp cận nguồn không khí dư dật bên ngoài.

Vào ngày thứ 21, con gà con phá vỡ vỏ trứng, và chui ra ngoài. Nếu một bước nào đó trong quá trình phát triển của con gà con bị bỏ lỡ hoặc không theo trật tự, con gà chết ngay.

Mỗi bước trong quá trình phát triển của một con gà con bình thường cũng đủ đánh bại logic tiến hóa. Quá trình đó phải được chính Đấng Tạo Hóa thiết lập. Từ chỗ không có gì cộng với thời gian, cộng với sự ngẫu nhiên không phải là một lời giải thích thích hợp cho sự phức tạp đến ly kỳ của sự sống khi chúng ta nghiên cứu và quan sát nó. Vĩ đại thay danh Chúa, Đấng Tạo Hóa của tất cả chúng ta!

 

tiếp theo bấm trang 9 ở trên...

P9

 

SỰ ĐỘT BIẾN CÓ SẢN SINH RA NHỮNG DẠNG SỐNG MỚI HAY KHÔNG?

dna
K
hi tôi bắt đầu cảm thấy áp lực của việc không có lấy một thực nghiệm khoa học nào có thể kiểm chứng được để chứng minh địa vị của tôi là một nhà tiến hóa hữu thần, tôi quay sang cái mà tôi nghĩ là con át chủ bài của mình, Sáng-thế ký. Chẳng lẽ không ai biết rằng khoa học di truyền đã chứng minh cách bất di bất dịch rằng tiến hóa đang diễn ra? Không có sự đột biến (những thay đổi trên gien và nhiễm sắc thể), thì sẽ không có sự thay đổi tiến hóa. Câu hỏi của các sinh viên của tôi là, “Sự đột biến có sản sinh ra những dạng sống mới hay những cải thiện mới trong các dạng sống hiện tại không?” Một cách tự nhiên, tôi cho rằng nó sản sinh ra những dạng sống mới và tôi nghĩ tôi có thể chứng minh nó bằng tài liệu khoa học. Tôi lại được một sự thức tỉnh khác!

Nhiều nhà sáng tạo (_) và các nhà tiến hóa nghiên cứu hiện tượng đột biến gen. Quan điểm nổi bật hơn của các nhà tiến hóa được tiến sĩ Ernst Mayr trình bày: “Rõ ràng, tất cả những biến thể, dĩ nhiên, lệ thuộc vào sự đột biến” (Mathematical Challenges to the Neo-Darwinian Interpretation of Evolution, tiến sĩ Ernst Mayr, 1967, trang 50). Tiến sĩ Mayr nói với chúng ta rằng tất cả những biến thể (các loại khác nhau của động vật và thực vật ) có thể quan sát được trong sự sống là tùy thuộc vào những thay đổi trên gien và nhiễm sắc thể. Những sự đột biến này diễn ra trong cấu trúc của DNA.

DNA: NGÔN NGỮ CỦA TẾ BÀO

DNA, những hệ thống thông tin cơ bản của tế bào, chứa đựng những bản thiết kế cần thiết cho việc sản xuất ra hơn 20 loại protein khác nhau. Mỗi loại protein trong số này được sản xuất trong những “nhà máy tế bào” (cell factories) dưới sự hướng dẫn của DNA và nó rất cần thiết để duy trì sự sống. Thế thì, cái nào có trước? Nếu DNA là rất cần thiết cho quá trình sản xuất protein, và quá trình sản xuất ra protein lại tối cần thiết cho việc hình thành và tồn tại của DNA, thế thì bạn không thể có cái này mà thiếu cái kia. Điều đó có nghĩa là cả hai phải được tạo dựng cùng một lúc và hoàn thành đúng chức năng của mình. Nói cách khác, Đức Chúa Trời ắt hẳn đã tạo dựng hệ thống thông tin của tất cả các tế bào vào đúng thời điểm và có đầy đủ chức năng của mình. DNA cần thiết phải có mới có thể tạo ra DNA! DNA cung cấp những hướng dẫn cho các nhà máy hóa chất trong một tế bào để tạo ra chính nó!

Các nhà khoa học gọi DNA là ngôn ngữ của tế bào. Tất cả các khoa học gia đều đồng ý rằng ngôn ngữ đòi hỏi phải có sự thông minh. Điều này có ngụ ý rằng DNA, ngôn ngữ của tế bào, đòi hỏi phải có sự thông sáng để tạo nên nó? DNA đã được tạo dựng và đặt để bên trong mỗi dạng sống khác nhau của sự sống bởi chính một Nhà Thiết Kế tài năng, chính là Thượng Đế của Thánh Kinh! Tiến hóa không có câu trả lời nào cho vấn đề nặng ký này. Nhưng Thượng Đế của Thánh Kinh phán bảo trong Kinh Thánh rằng: “Ta tạo dựng, tạo dựng, và tạo dựng!”

Những thông tin di truyền của DNA không thể chuyển đổi trong bất kỳ tổ chức sống bình thường và mạnh khỏe nào. Sự chọn lọc tự nhiên hay “sự sống sót của các cá thể thích nghi” không sản xuất ra những gien mới, nó chỉ lựa chọn loài động vật hay thực vật, hoặc môi trường thích hợp để sinh sống và tồn tại. Đây chỉ là sự thích nghi đặc biệt với môi trường chứ không phải là đột biến. Nhưng đột biến lại chỉ là một cơ chế mà các khoa học gia đã đề ra để làm phát sinh thông tin di truyền “mới” cần thiết cho những thay đổi tiến hóa trong kiểu tiến hóa từ phân tử đến người. Điều này đưa ra một vấn đề to lớn cho tiến hóa, đặc biệt khi chúng ta học biết rằng sự đột biến gien là một hiện tượng vô cùng hiếm hoi (The Mechanics of Evolution, Francisco Ayala, 1978, trang 63).

Làm thế nào sự sống có thể tiến hóa thành hàng triệu dạng sống (loài) khác nhau nếu cơ chế tối thiểu gây nên tiến hóa (đột biến) lại là một hiện tượng cực hiếm? Khi sự đột biến xảy ra, các nhà di truyền học nói cho chúng ta biết rằng những đột biến có đến 99,9% là có hại.

“Quá trình đột biến là cơ sở duy nhất cho những vật liệu sống của sự đa dạng về di truyền, và do đó, của cả tiến hóa...Những tác nhân đột biến khi xuất hiện, với tỉ lệ cực kỳ thấp, vốn rất có hại cho những cá thể mang chúng, ít nhất là trong những môi trường mà các loài đó đang sống bình thường” (Tờ American Scientist , số ra vào tháng 12/1957, trang 385, bài “On Methods of Evolutionary Biology and Anthropology ” của Theodosius Dobzhansky).

Dobzhansky đã tiến hành những thí nghiệm nhân giống, lai giống, và gây tác nhân đột biến trên loài ruồi giấm suốt cả đời ông. Cuối cùng, ông có được những con ruồi giấm là lạ, tuy nhiên, đó vẫn là ruồi giấm. Một số trong số những con ruồi giấm này không thể thực hiện ngay cả việc sinh sản vì chúng đã trở nên vô sinh. Dobzhansky viết rằng sự đột biến là cơ sở duy nhất của tiến hóa, nhưng cũng viết rằng chúng hầu như luôn luôn nguy hiểm (điều đó có nghĩa là sự đột biến càng làm cho các dạng sống trở nên ít thích nghi hơn để có thể tồn tại ngay cả trong môi trường hiện tại mà nó đang sống). Nếu “sự sống sót của các cá thể thích nghi” là có thật, thì chính đột biến gây nên sự tuyệt chủng chứ không phải tạo nên những dạng sống mới tốt hơn. Dĩ nhiên, những gì chúng ta thấy trong tự nhiên (quá khứ và hiện tại) là sự tuyệt chủng của các loài thực vật và động vật, chứ không thấy sự biến đổi và hình thành những loài mới. Có đến hàng triệu dạng sống từ thực vật cho đến các loài côn trùng, nhưng hầu như tuần nào chúng ta cũng chỉ nghe đến sự tuyệt chủng. Trong đời bạn, đã bao nhiêu lần bạn nghe rằng có những sinh vật mới tiến hóa xuất hiện? Với hàng triệu loài sống trên thế giới, chắc chắn sự đột biến có xảy ra và một cái gì đó cũng đang bị biến đổi. Các nhà tiến hóa đang nghiên cứu từ những dấu hiệu nhỏ nhất cho thấy một cái gì đó sẽ tiến hóa để chứng minh thuyết của họ là đúng.

Vài năm trước, cộng đồng tiến hóa đã giới thiệu cho công chúng những thí dụ tốt nhất của họ để chứng minh rằng tiến hóa đang diễn ra. Đó là một gia đình cá nước ngọt bị cách ly khỏi những người bạn cũ của chúng trong vài năm. Khi những con cá được đem trở lại với nhau, chúng không giao phối với nhau. Các nhà tiến hóa cho rằng một loài sẽ trở thành loài khác khi nó không còn giao phối với những người bạn cũ của nó nữa. Có lẽ gia đình cá cảm thấy chẳng tốt lành gì khi lìa khỏi nơi ở tạm thời của nó. Hay có lẽ những người bạn cũ của nó đã không nhận ra nó, hay có thể lắm những nhà nghiên cứu đã không chờ đợi đủ lâu để khẳng định xem chúng có chấp nhận nhau trở lại không. Một sự thật là những con cá trong thí nghiệm này vẫn được xác định cách không nhầm lẫn bởi các khoa học gia và những người dân thường rằng chúng là giống cá nước ngọt. Bằng chứng sự tiến hóa của một sinh vật thành một sinh vật khác là thế đấy, sau khi cho sinh sản trong hơn 11 năm, những con cá nước ngọt vẫn cứ được gọi là những con cá nước ngọt.

Ngay cả cho dù giống cá nước ngọt đó không chịu giao phối với nhau và vì thế được phân loại ra thành một loài mới của họ cá nước ngọt, điều đó chẳng chứng minh sự tiến hóa từ một loài này sang một loài khác. Con người đã nghĩ ra các định nghĩa và sự phân loại của họ về các loài, nhưng Đức Chúa Trời chỉ nói đến “loại” trong Sáng-thế ký. Về phương diện Kinh Thánh mà nói, có những ranh giới nào đó mà không dạng sống nào có thể vượt qua. Một “loài” cụ thể nào đó sẽ chẳng bao giờ có thể tiến hóa thành một loài sinh vật khác. Cá nước ngọt cũng là cá. Trong vòng loài cá, có nhiều chỗ cho sự thay đổi, ngay cả thay đổi “tiến hóa,” nhưng cá vẫn mãi mãi là cá, con lớn, con nhỏ, nước ngọt, nước mặn...Cá vẫn mãi mãi là cá!

Thật chẳng đúng chút nào khi các nhà khoa học nói với chúng ta trong trường và trong các trường đại học rằng cơ cấu chính trong quá trình tiến hóa của chúng ta (nếu từng có) là sự đột biến của các gen, rồi thì họ lại nói trong các tài liệu khoa học rằng sự đột biến là hoàn toàn có hại và gây chết chóc: “Sự đột biến còn nhiều hơn những thay đổi bất thường trong di truyền; chúng cũng ảnh hưởng đến khả năng phát triển và tồn tại, và, như những gì chúng tôi đã biết, lúc nào nó cũng gây ảnh hưởng bất lợi” (_) (C.P. Martin).

Vì thế chúng ta biết rằng đột biến trong một dạng sống khỏe mạnh sẽ luôn luôn tạo nên những thay đổi có hại hoặc làm cho cả tổ chức sống bị chết. Làm thế nào tiến hóa từ phân tử đến người xảy ra nếu quá trình tối quan trọng khiến nó xảy ra, quả thật, lại làm hại hay giết chết tổ chức sống? Nói theo trật tự, tại sao các khoa học gia tiến hóa lại phải tản cư khỏi khu vực lò phản ứng Three Mile Island tại Pennsylvania khi nó phát nổ? Tại sao những nhà khoa học này không chuyển gia đình họ đến tận chỗ đó để “được” nhiễm xạ và như thế đột biến xuất hiện và họ có thể tiến hóa lên dạng sống cao hơn? Các khoa học gia biết rằng thế hệ con cháu của họ sẽ thừa hưởng những đặc tính không khỏe mạnh do sự tác động của phóng xạ tại Three Mile Island. Họ chạy trốn khỏi nguồn phóng xạ gây đột biến càng nhanh càng tốt!

Một giáo sư di truyền học tại đại học Wisconsin, James Crow viết:

“...những kết quả của đột biến thường có hại. Vì đột biến là một thay đổi ngẫu nhiên của một cơ thể sống được tổ chức cao, và chức năng tốt, hợp lý. Một sự thay đổi ngẫu nhiên trong một hệ thống hòa nhập (integrated) các quá trình hóa học cấu thành nên sự sống thì hầu như và chắc chắn là sẽ làm cho nó suy yếu đi - giống như một sự xen kẽ ngẫu nhiên của các kết nối đằng sau một cái TV không làm cho hình ảnh của nó đẹp hơn” (Bulletin of Atomic Sciences, James Crow, 1958, trang 19-20).

Sự loại suy của tiến sĩ Crown hoàn toàn chính xác. Tất cả chúng ta biết rằng việc nối lung tung các dây đằng sau cái TV cũng chẳng thể làm cho hình ảnh tốt hơn được. Cùng một cách đó, những sự thay đổi ngẫu nhiên trong gien không cải thiện khả năng sống và thực hiện các chức năng của chúng ta. Một sự thật nữa là chưa có nhà khoa học nào thấy sự đột biến ngẫu nhiên sản sinh ra một hormone, một enzyme, hay một cơ quan sống mới (_). Tuy nhiên, họ lại dạy cho chúng ta và con cháu chúng ta một lời dối trá rằng chúng ta có ở đây vì những tổ tiên cổ xưa của chúng ta đã có những đột biến trong gien của họ làm cho họ tiến hóa ngày càng cao hơn và trở thành chúng ta. Phép mầu!! Hãy lắng nghe những lời của một nhà tiến hóa nổi tiếng của đại học Pennsylvania, tiến sĩ Loren Eiseley:

“Với sự thất bại của những cố gắng này (để chứng minh tiến hóa là thật), khoa học đã bị đẩy vào chỗ lúng túng vì phải công nhận những nguồn gốc của sự sống vốn nó không thể chứng minh. Sau khi mắng mỏ các nhà thần học vì lòng tin của họ nơi huyền thoại và phép lạ, khoa học tự thấy rằng chính nó đang đứng ở một vị trí (mà người ta chẳng thèm) phải tạo nên một thần thoại cho chính mình: gọi là, giả thuyết về những gì, sau những nỗ lực lâu dài mà vẫn không thể chứng minh nó đã thực sự diễn ra, đã diễn ra trong quá khứ cổ xưa” (The Immense Journey, tiến sĩ Loren Eiseley, 1957, trang 199).

SỰ TIẾN HÓA CỦA THỰC VẬT

Một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực tiến hóa thực vật và các thực vật hóa thạch, tiến sĩ E. J. H. Corner tại trường đại học Cambridge đã khẳng định cách võ đoán:

“Thuyết tiến hóa không chỉ là thuyết về nguồn gốc của các loài, nhưng cũng là lời giải thích duy nhất cho một sự thật là các tổ chức sống có thể được phân loại thành mối quan hệ họ hàng có cấp bậc trong tự nhiên (hierarchy of natural affinity). Nhiều bằng chứng có thể được viện dẫn để ủng hộ thuyết tiến hóa - từ sinh học, địa sinh học (bio-geography) và cổ sinh vật học, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng, đối với những người vô tư (không có thành kiến hay định kiến - ND), các hóa thạch của cây cỏ lại ủng hộ cho sự sáng tạo đặc biệt ” (Evolution in Contemporary Botanical Thought , E. J. H. Corner, 1961).

Theo chuyên gia Corner, không có bằng chứng cho sự tiến hóa của thực vật. Quả thật, khi thực vật được nghiên cứu kỹ lưỡng, chúng là cả một sự sáng tạo đặc biệt! Lĩnh vực thực vật học không chứng minh tiến hóa, tuy thế, tiến sĩ Corner vẫn tin vào hệ thống tiến hóa hoang đường. Ông tin vào những đồng nghiệp của ông trong “sinh học, địa sinh học và sổ sinh vật học” sẽ chứng minh tiến hóa là thật. Trong lĩnh vực của Corner (thực vật học), sự sáng tạo đặc biệt là quan điểm tốt nhất.

Nếu không có bằng chứng cho sự tiến hóa của con người hay thực vật, thế thì sự tiến hóa của loài cá thì sao?

SỰ TIẾN HÓA CỦA LOÀI CÁ

 “Các di tích địa chất cho đến hôm nay đã chẳng cung cấp một bằng chứng nào về nguồn gốc của các loài cá...” (A History of Fish, J. R. Norman, 1975, trang 11).

Theo những chuyên gia này, không có bằng chứng nào cho sự tiến hóa của thực vật, và cũng không có bằng chứng nào cho sự tiến hóa của loài cá. Thế các loài lưỡng cư thì sao?

SỰ TIẾN HÓA CỦA CÁC LOÀI LƯỠNG CƯ

“...không loài nào trong số các loài cá đã biết được cho là tổ tiên trực tiếp của những động vật có xương sống trên cạn đầu tiên. Đa số chúng sống sau khi những loài lưỡng cư đầu tiên xuất hiện, và những loài đã xuất hiện trước đó không có bằng chứng nào cho sự phát triển của những lá và cành cứng cáp vốn là đặc trưng của những loài thực vật bốn cánh cổ xưa (primitive tetrapods)...

Do những hóa thạch chẳng cung cấp bằng chứng nào cho những hướng khác của dạng sống trung gian từ loài cá sang loài thực vật bốn cánh, các nhà cổ sinh vật học đã phải suy đoán xem những cái chân và việc thở không khí đã tiến hóa thế nào...” (Vertebrate History: Problems in Evolution , Barbaba J. Stahl, 1974, trang 148, 195).

Không có bằng chứng nào cho sự tiến hóa của thực vật và cũng không có bằng chứng cho sự tiến hóa của cá. Còn gì nữa, bằng chứng duy nhất cho các loài lưỡng cư chính là “những suy đoán” của các chuyên gia hóa thạch. Thế thì, bằng chứng cho sự tiến hóa của các sinh vật như họ giả định là đã phát triển khả năng bò ra khỏi nước và sống như động vật trên cạn chỉ nằm trong sự tưởng tượng của nhà tiến hóa mà thôi. Không có hóa thạch nào và cũng không có chứng cớ nào ủng hộ niềm tin vào sự tiến hóa của các loài lưỡng cư. Về các loài chim thì sao?

SỰ TIẾN HÓA CỦA CÁC LOÀI CHIM

“Nguồn gốc (tiến hóa) của các loài chim chỉ là một điều suy diễn. Chẳng có một bằng chứng hóa thạch nào ghi lại những giai đoạn biến đổi quan trọng từ loài bò sát cho tới loài chim được tìm thấy” (Biology and Comparative Physiology if Birds , W. E. Swinton, 1960, trang 11).

Sự tiến hóa của loài chim là một điều tưởng tượng. “Tưởng tượng” trong trường hợp này là một từ lịch sự cho khái niệm “suy diễn.” Không có lấy một bằng chứng hóa thạch nhỏ nào được chấp nhận lại cho thấy những chuyển đổi tiến hóa từ loài bò sát sang loài chim.

Theo các chuyên gia tiến hóa trên, tiến hóa đã đang thiếu rất nhiều bằng chứng vững chắc! Cho dù chúng ta được dạy rằng đột biến là tốt vì chúng làm sản sinh những dạng sống mới và thúc đẩy tiến hóa, chúng ta cũng không thấy những điều “tốt” đó xảy ra trong thực tại sự sống. Đột biến gien không thể là động lực đằng sau tiến hóa được. Và những nhà tiến hóa cũng không thể cung cấp bằng chứng để chứng minh sự tiến hóa của các sinh vật.

THỜI GIAN TẠO NÊN NHỮNG PHÉP LẠ

Nhưng điều gì xảy ra nếu trái đất được công nhận là đã có đến hàng tỉ năm tuổi? Những lý luận xưa cũ luôn xuất hiện ở điểm này, rằng bất cứ thứ gì cũng đều có thể xảy ra trong một hệ thống ngẫu nhiên nếu nó có đủ thời gian. Chúng ta sẽ thảo luận chuyện “hàng tỉ năm” trong chương 10. Nhưng trước khi rời chương 9, xin chúng ta đừng quên rằng những thay đổi trong gien (đột biến ngẫu nhiên) chẳng thể cải thiện các dạng sống hiện tại, cũng chẳng có bằng chứng xác thực, vững chắc nào cho thấy chúng thúc đẩy các loài thực vật hay động vật phát triển. Sự di tản cấp tốc khỏi khu Three Mile Island đã chứng minh điều đó cách quá rõ ràng! (Nếu những đột biến thật sự có ích, thì chúng ta nên vui mừng và sẵn sàng dọn đến đó ở hòng “cải thiện” những cơ hội tiến hóa của chúng ta!)

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Con Tắc Kè

contacke

“Con tắc kè là một giống thằn lằn lớn, bụng phệ (pot-bellied) có một bộ da rộng. Dầu bộ da trông có vẻ quá lớn, nhưng nó chính là những gì con tắc kè cần khi kẻ thù của nó xuất hiện. Bạn biết đấy, khi kẻ thù đến gần con tắc kè, nó sẽ chạy rất nhanh vào một khe hở trên đá và trốn vào đó. Trong khe nứt của đá, con tắc kè hít không khí vào và thổi phồng lên như một cái bong bóng. Khi kẻ thù đến gần, thì con tắc kè đã được chèn kín cách an toàn trong khe đá. Dầu rằng khoảng cách với kẻ thù là rất ngắn, nhưng nó được an toàn. Nhiền năm về trước, những người Da Đỏ ở sa mạc miền nam của nước Mỹ chúng ta đã học được cách làm thế nào bắt được con tắc kè. Họ đâm vào mình nó bằng một cái mũi tên để làm thủng lớp da và khí sẽ xì ra; rồi sau đó người Da Đỏ dễ dàng bắt nó từ trong chỗ nấp. Con người có lẽ là kẻ thù duy nhất của con tắc kè vì khi đối diện với anh ta, nó không thể nào được an toàn.

Dĩ nhiên, sa mạc thì rất khô cằn. Một số con tắc kè sống ở nơi mà trong cả một năm chỉ có một cơn mưa rào. Trong những nơi khô cằn này, con tắc kè nhìn chung sống lối sống ngủ đông (dormant life) trong gần cả một năm. Nó nằm im hoặc ngủ suốt 7 tháng trong năm.

Khi thức giấc, con tắc kè ăn bất cứ loài thực vật nào có nhiều nước mà nó tìm được. Những tuyến đặc biệt cất giữ nước từ cây cỏ, và con tắc kè mập lên vì thức ăn. Nhìn chung, tắc kè thường ngủ từ tháng 8 năm trước đến tháng 3 năm sau.

Nhiều loài cây trong sa mạc hấp thu nhiều muối từ đất trong quá trình phát triển. Con tắc kè nhận một lượng muối lớn qua thức ăn, lượng muối đó đủ giết chết một con vật bình thường khác. Muối cũng sẽ giết chết con tắc kè nếu nó không có những tuyến đặc biệt thải muối ra ngoài. Những tuyến này nằm ở trong lỗ mũi của con tắc kè, và, khi muối đã đầy những tuyến này, con tắc kè thỉnh thoảng hắt hơi. Việc hắt hơi giúp tống khứ muối đã kết tinh mà các tuyến này đã lọc ra từ máu trong cơ thể.

Con tắc kè máu lạnh ngủ lâu, nhưng khi nó thức dậy, nó sẽ ấm lên nhanh chóng. Những đêm trường trong sa mạc và buổi sáng tinh sương thường rất lạnh. Những sinh vật máu lạnh thường rất chậm chạp và lờ đờ khi chúng lạnh, và những con tắc kè lạnh là những con dễ bị bắt. Vì lý do đó, con tắc kè có bộ da màu sậm, hấp thu nhiệt cao. Vào thời điểm cuối ngày, da con tắc kè chuyển sang màu phản nhiệt (heat-reflecting) sáng hơn, vì con tắc kè cũng không thể để cho mình bị quá nóng. Sự hợp lý mà chúng ta tìm thấy khi quan sát con tắc kè và nghiên cứu cấu trúc thân thể nó đưa chúng ta đến chỗ nhìn nhận Đấng Sáng Tạo của nó. Chỉ Đức Chúa Trời, Đấng toàn tri, toàn tại, mới có thể tạo dựng những điều kỳ diệu trên con tắc kè cũng như trên hết thảy mọi loài động thực vật khác để minh chứng cho con người thấy sự thực hữu của Ngài trên cõi trần gian và đời đời” (Order and Reality , DeWitt Steele, 1980, trang 138. Các bậc cha mẹ có thấy rằng vẫn có những sách khoa học mà các con quý vị nên xem để giúp chúng chống lại quan điểm tiến hóa không?)

 

tiếp theo bấm trang 10 ở trên...

P10


TRÁI ĐẤT: TRẺ HAY GIÀ? HÃY CHO TÔI SỰ THẬT, KHÔNG PHẢI NHỮNG GIẢ THUYẾT

chuasangtao-2
K
hi đối diện với những thiếu thốn về bằng chứng ủng hộ niềm tin của họ, sự tiến hóa từ phân tử đến người, các nhà tiến hóa luôn quay trở lại việc tranh cãi về thời gian. “Hãy cho chúng tôi đủ thời gian,” họ nói, “và tiến hóa sẽ xảy ra.” Và vì thế những nhà tiến hóa công bố những khoảng thời gian đến hàng tỉ năm về tuổi của vũ trụ. Những cái “hàng tỉ, hàng tỉ năm” này đã được nhấn mạnh từ khi chúng ta còn bé. Khi còn là trẻ con, chúng ta được nghe về những con người nổi tiếng và các tác giả khoa học trong những bộ áo trắng trong phòng thí nghiệm hết lần này đến lần khác đề cập đến những khoảng thời gian dài vô tận này. Những tin tức được lan truyền khắp nơi, và những chương trình thiên nhiên trên đài truyền hình phổ thông đề cập đến hàng tỉ năm như là một sự thật. Việc lập đi lập lại là rất cần thiết cho sự tẩy não; và sự tẩy não lại rất cần thiết cho niềm tin vào tiến hóa từ phân tử đến người, vì chẳng có lấy một bằng chứng khoa học thực nghiệm (khoa học không dựa trên những giả thuyết) cỏn con nào chứng minh cho điều đó. Hầu hết những nhà sáng tạo nói rằng vũ trụ chỉ khoảng đâu đó từ 6 đến 10 ngàn năm tuổi mà thôi. Một vũ trụ trẻ không phải là vấn đề gì cho các nhà sáng tạo vì Đức Chúa Trời của chúng ta, Đấng Tạo Hóa của Thánh Kinh, cũng chính là Đấng Sáng Tạo của thời gian. Ngài không cần thời gian. Ngài có thể và đã sáng tạo nên một con người hoàn toàn trưởng thành, các loài thực vật, động vật cũng vậy.

Những nhà tiến hóa xây dựng những giả thuyết suốt quá trình “gán” những khoảng thời gian đến hàng triệu triệu năm cho một mẫu đá nào đó. Nếu có cái nào trong số những giả thuyết của họ là không có hiệu lực, thì hoàn toàn không thể dùng kỹ thuật đó để tìm đúng niên đại của một hòn đá. Sau đây là những kỹ thuật tính niên đại: Chẳng hạn chúng ta tìm thấy một hòn đá và rồi muốn xác định xem nó bao nhiêu tuổi. Chúng ta quyết định phân tích hòn đá bằng cách quan sát một số nguyên tố hay hợp chất nào đó có tính chất là sẽ tan rã ra theo thời gian và hình thành nên một số nguyên tố hay hợp chất khác. Có thể chúng ta sẽ tìm một đồng vị đặc biệt của uranium và nguyên tố mà nó sẽ phân rã thành, tức là một đồng vị đặc biệt của chì. Trong mẫu đá của chúng ta, chúng ta tìm thấy một số uranium đặc biệt này và một số chì mà uranium đã phân rã thành (gọi là “nguyên tố con” - daughter element). Chì được gọi là nguyên tố con vì nó hình thành từ sự phân rã của nguyên tố mẹ (mẫu tố - ND) uranium. Chúng ta có thể đo lường xem có bao nhiêu chì trong hòn đá, và vì chúng ta nghĩ rằng mình biết tốc độ phân rã của uranium thành chì là nhanh (hay chậm), lượng chì trong đá sẽ cho chúng ta biết hòn đá bao nhiêu tuổi. Nói cách khác, lượng chì có trong đá là kết quả của một lượng uranium nào đó đã đang phân rã qua một số X năm. Và tất cả những điều này là một khung thời gian đặc biệt trong hàng triệu hay hàng tỉ năm, thế là một số các giả thuyết lại ra đời.

GIẢ THUYẾT MỘT: KHÔNG NHIỄM BẨN (PHÓNG XẠ - CONTAMINATION)

Trước hết, nhà khoa học giả định rằng mẫu đá của ông ta chưa từng bị nhiễm bẩn. Không gì có thể vào hoặc ra khỏi hòn đá và có thể tác động đến kỹ thuật xác định niên đại khiến cho ra một kết quả sai lầm. Điều này đòi hỏi một “hệ thống khép kín ” (closed system ) cho môi trường của hòn đá . Tiến sĩ Henry Morris đã nói trong quyển Khoa Học Sáng Tạo (Scientific Creationism, 1974) rằng không có một thứ gì trong tự nhiên là hệ thống khép kín cả. Hệ thống khép kín là một khái niệm lý tưởng, tiện lợi cho việc phân tích, nhưng không hề tồn tại trên thế giới. Morris nói rằng ý tưởng về một hệ thống vẫn cứ khép kín trong hàng triệu năm đã trở thành một điều ngớ ngẩn. Một số nhà tiến hóa tuyên bố rằng mỗi phân tử trong vũ trụ có mặt trong ít nhất bốn hợp chất khác nhau kể từ Vụ Nổ Lớn. Nhưng những nhà tiến hóa không thể chọn cả hai cùng một lúc; họ không thể vừa nói rằng các phân tử có thể di chuyển từ hợp chất này sang hợp chất khác, và lại cũng nói rằng các phân tử không dao động mà đứng im, như chúng phải như vậy trong một hệ thống khép kín.

Vì thế, giả thuyết thứ nhất cần phải có cho việc xác định niên đại của những hòn đá đã không còn thích hợp nữa. Những hòn đá rõ ràng có bị nhiễm bẩn (phóng xạ) khi nhiều thứ thấm vào chúng, và những hòn đá thay đổi thành phần của chúng khi nhiều thứ từ chúng thoát ra. Một hệ thống khép kín có vẻ tốt và rất cần thiết cho sự chính xác của việc định niên đại, nhưng nó chưa từng tồn tại trong tự nhiên.

GIẢ THUYẾT THỨ HAI: KHÔNG CHỨA THÀNH PHẦN HỢP THÀNH (DAUGHTER COMPONENT)

Giả thuyết thứ hai trong việc xác định niên đại của đá là khối đá đó ngay từ đầu không chứa các thành phần hợp thành (tức là những sản phẩm của quá trình phân rã - ND). Để tính toán niên đại của mẫu đá chúng ta chẳng hạn, thì phải không có chút chì nào trong hòn đá từ khi nó được hình thành. Giả sử phải tốn 1 triệu năm phân rã thì uranium mới tạo ra được một miligram chì. Rồi sau đó chúng ta mới phân tích một hòn đá và khám phá rằng nó chứa một miligram chì bên trong. Thế là chúng ta sẽ công bố, đầy tính thuyết phục, rằng, “Hòn đá này đã 1.000.000 năm tuổi theo những tính toán niên đại kỹ thuật cao của tiến sĩ Credentials, người có hai bằng tiến sĩ trong lĩnh vực xác định niên đại của đá.” Ai sẽ nghi ngờ việc hòn đá bao nhiêu tuổi? Hầu như chẳng một ai! Nhưng chờ đã. Giả sử Đức Chúa Trời đã tạo dựng hòn đá có sẵn một lượng chì ở trong đó. Hoặc giả sử là một lượng chì nào đó đã thâm nhập vào hòn đá hay chính nó đã được hình thành từ một quá trình phân rã nào khác (khác hơn của uranium - ND). Làm thế nào một chuyên gia có thể phân biệt được đâu là lượng chì Đức Chúa Trời đã đặt để vào (hay đã hình thành theo một cách thức khác) và lượng chì thực sự hình thành do quá trình phân rã của uranium? Rõ ràng là chẳng một ai có thể biết được ngay từ đầu hòn đá này có bao nhiêu chì. Do đó, đối với sự “chính xác” trong các phòng thí nghiệm, nhà tiến hóa đã phải tuyên bố cách tùy tiện: “Từ đầu tiên đã không có chì (nguyên tố con); tôi không thể chứng minh được; nhưng tôi giả sử (cứ coi như) điều này là thật.”

Mỗi lần bạn được nghe nói rằng hòn đá này vài triệu năm hay vài tỉ năm tuổi, hay ngay cả chỉ 10 ngàn năm thôi, nên nhớ rằng nhà khoa học làm việc xác định niên đại của nó đã phải giả định rằng ngay từ lúc hình thành, hòn đá đó không hề chứa các hợp chất là thành phần hợp thành (nguyên tố con, các sản phẩm của quá trình phân rã - ND). Điều này có nghĩa là lúc nào ông ta cũng chỉ đoán mà thôi. Vậy chúng ta tin nơi những điều mà những người gọi là các “khoa học gia” suy đoán và coi nó như sự thật và lại tiếp tục tin rằng Kinh Thánh đã sai khi nói về một kỳ sáng tạo sáu ngày-24-giờ vào khoảng 6.000 năm trước? Chắc hẳn là không!

GIẢ THUYẾT THỨ BA: TỐC ĐỘ PHÂN RÃ KHÔNG ĐỔI

Giả thuyết thứ ba được tiến sĩ Henry Morris đưa ra là: “Tốc độ của quá trình phân rã phải luôn luôn giống nhau.” Nếu tốc độ của cả quá trình (tốc độ mẫu tố phân rã ra thành những thành phần hợp thành (nguyên tố con)) có sự thay đổi kể từ khi hòn đá vừa hình thành, thế thì sự thay đổi tốc độ phân rã đó phải được sửa lại cho đúng và như nhau thì các tính toán niên đại của đá mới chính xác (tức là nếu tốc độ phân rã của mẫu tố không giống nhau ngay từ khi hòn đá hình thành (lúc nhanh, lúc chậm) thì kết quả đo đạc sẽ hoàn toàn sai trật - ND). Các nhà khoa học biết rằng tốc độ của cả quá trình này có thể bị thay đổi bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Tốc độ phân rã có thể được đẩy nhanh hơn hoặc làm chậm lại trong một số hợp chất khi thử với nhiều loại bức xạ và tia X khác nhau. Như tiến sĩ Morris đã khẳng định, mỗi quá trình trong tự nhiên được duy trì ở một tốc độ vốn rất dễ bị ảnh hưởng bởi vô số những tác nhân khác bên ngoài.

Điều gì xảy ra nếu bức xạ bắn phá trái đất khi xưa đã khiến cho uranium 238 phân rã nhanh hơn (nói cách khác, chu kỳ bán phân rã (half-life) của nó ngắn hơn dưới tác động của năng lượng bức xạ)? Làm thế nào một nhà khoa học có thể biết rằng quá trình phân rã đã được đẩy nhanh trong suốt quá trình bắn phá bức xạ một tỉ năm về trước? Ông ta không thể biết, phải không nào? Điều đó có nghĩa là ông ta không thể xác định niên đại hòn đá cách chính xác. Điều gì sẽ xảy ra nếu bức xạ khiến cho tốc độ của cả quá trình nhanh lên, nhưng trước đó nữa, những tia X đã làm cho nó chậm hơn 2 lần so với bây giờ thì sao? Làm thế nào nhà khoa học có thể nói với chúng ta niên đại của hòn đá? Ông ta không thể làm điều đó được. Song chẳng phải là chúng ta đã được bảo rằng hàng loạt bức xạ tia X đã bắn phá lớp bùn đầu tiên của hành tinh trái đất cổ xưa làm lóe lên một “tia lửa” và đùn đẩy các hóa chất vô cơ vào thành một khối các tế bào sống sao? Cái gọi là thuyết “punctuated equilibrium” cứ khẳng định rằng đã có nhiều vụ bắn phá bức xạ qua thời gian khiến cho một động vật nhanh chóng đột biến thành một dạng sống cao hơn. (Thuyết “punctuated equilibrium” dạy rằng tiến hóa diễn ra quá nhanh để có thể thấy được, trái với thuyết tiến hóa của Darwin, vốn cho rằng tiến hóa diễn ra chậm chạp và vì quá chậm nên không thể thấy.)

Dường như là những nhà tiến hóa không thể chọn cả hai. Nếu bức xạ khiến cho tốc độ phân rã nhanh lên hay chậm xuống, thì bức xạ cần thiết để bắt đầu sự sống từ những cái không sống và biến đổi những dạng sống cũ thành những dạng sống mới sẽ hoàn toàn làm mất tác dụng của những niên đại lên đến hàng tỉ năm cũng như đánh bại những kỹ thuật tính toán ngày tháng của họ. Những đồng hồ nguyên tử chạy nhanh hay chậm là lệ thuộc vào bức xạ. Chúng ta hãy nhìn vào vấn đề này từ một góc cạnh khác: nếu không có sự bắn phá bức xạ, thì giả thuyết thứ ba của cả ba giả thuyết về việc xác định niên đại nói đến ở trên có thể đúng (ngay cả khi hai giả thuyết đầu tiên đã đánh đổ hoàn toàn sự chính xác của kỹ thuật xác định niên đại) - nhưng bây giờ chúng ta không có “tia lửa” bức xạ để tạo nên sự sống từ những hóa chất không sống và để kích thích những đột biến cần thiết được coi là để cải thiện các tổ chức sống! Không có bức xạ, tốc độ phân rã sẽ ổn định như thế qua hàng tỉ năm, nhưng nguồn lực gì đã thúc đẩy tiến hóa bắt đầu và vẫn tiếp tục trong trường hợp này?

Như tiến sĩ Morris đã nói, những suy đoán “có giáo dục” được đề ra để xác định những niên đại biểu kiến. Nhưng niên đại biểu kiến có thể hoàn toàn chẳng liên quan gì đến niên đại thật của hòn đá.

Ba giả thuyết trên: (1) một hệ thống khép kín, (2) không có thành phần hợp thành (nguyên tố con) ngay từ đầu, (3) tốc độ phân rã luôn luôn như nhau - tất cả đều liên quan đến khi một nhà khoa học xác định niên đại của đá. Không có cái nào trong số 3 giả thuyết này là phù hợp, và không có cái nào có thể áp dụng theo phương pháp khoa học trong quan sát và tái thực nghiệm những nghiên cứu. Không có cách gì để xác định niên đại cách chính xác vượt quá vài ngàn năm. Điều đó có nghĩa là trái đất rất trẻ và không một khoa học gia nào có thể chứng minh điều ngược lại!

“...Chắc chắn chẳng có một bằng chứng thực tế nào chứng minh sự sắp xếp thời gian tiến hóa là hợp lý.

Điều này là thật, không có một lý do thuyết phục nào ngăn trở chúng ta nghiêm túc nhìn nhận một lần nữa khả năng về những khoảng thời gian ngắn trong sự sáng tạo.

Là một chân lý, sự sáng tạo không cần, trong hình thức cơ bản của nó, phải tốn dầu chỉ một khoảng thời gian ngắn. Nó chỉ chiếm một giai đoạn sáng tạo đặc biệt nào đó trong quá khứ, không cần thiết phải xác định đó là khi nào. Mặt khác, tiến hóa đòi hỏi một khoảng thời gian dài. Sáng tạo vì thế rất tự do thoải mái công nhận các bằng chứng giá trị của chính nó, ngược lại, tiến hóa bị buộc phải phủ nhận tất cả những bằng chứng ủng hộ cho một khoảng thời gian ngắn.

Dầu rằng sự sáng tạo không cần thiết phải kết nối với một khoảng thời gian ngắn, như tiến hóa phải gắn liền với một khoảng thời gian dài, một sự thật là nó khớp một cách rất tự nhiên với bảng niên đại ngắn. Giả sử Đức Chúa Trời có một mục đích trong sự sáng tạo của Ngài, và mục đích đó xoay quanh người đàn ông đầu tiên, điều đó càng phù hợp hơn vì Ngài sẽ chẳng cần phải phí hàng niên kỷ một cách vô nghĩa khi quan tâm đến những giai đoạn chưa hoàn thành hay những giai đoạn của công việc sáng tạo Ngài dự định” (Scientific Creationism , tiến sĩ Henry Morris, trang 136).

Sự thật là ở chỗ chúng ta đã phải học một điều dối trá từ khi bước chân vào trường. Chúng ta được dạy để phải tin rằng trái đất rất già dẫu rằng chẳng có bằng chứng khoa học nào (xem chương 2, “...Và đến các giả thuyết”) minh chứng cho những niên kỷ dài lê thê của thời gian. Song chúng ta không được dạy về những bằng chứng dồi dào, phong phú đưa đến kết luận rằng trái đất có lẽ chỉ khoảng vài ngàn năm tuổi mà thôi. Có bao nhiêu bằng chứng ủng hộ trái đất non trẻ của bạn mà bạn có thể liệt kê ra? Bạn có thể nghĩ đến vài bằng chứng đó không? Bạn có thể viết ra dầu chỉ một bằng chứng vững chắc minh chứng rằng trái đất chúng ta còn rất trẻ không? Hầu hết mọi người (kể cả những Cơ Đốc nhân) không thể nghĩ ra dù chỉ một bằng chứng chứng minh trái đất còn trẻ. Bạn thấy đấy, chúng ta đã bị dẫn vào trong một trong những lời dối trá thuộc thế giới Sa-tan - rằng vũ trụ đã già cỗi. Nếu một nhóm Cơ Đốc nhân nào được hỏi, “Bạn có tin rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng trời và đất không?” Mọi người sẽ đưa tay lên và trả lời chắc chắn, “Phải, Đức Chúa Trời đã dựng nên trời và đất.” Rồi người ta hỏi tiếp, “Bạn có tin rằng Đức Chúa Trời đã dùng nhiều tỉ năm qua các thời đại địa chất và quá trình tiến hóa để sáng tạo không?,” một số ngừng lại, một số cứ nói loanh quanh, và nếu có ai thành thật, nhiều cánh tay sẽ giơ lên. Bây giờ, câu hỏi thứ ba, “Bạn có tin rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên trời và đất, biển và mọi thứ chỉ trong một tuần lễ, theo đúng nghĩa đen, có 6 ngày, mỗi ngày 24 giờ không?” Trong một Hội Thánh Phúc Âm ở Dallas, Texas, chỉ có 5 cánh tay giơ lên trong một lớp học 50 người. Bạn nói, “Họ chắc là đã không hiểu câu hỏi!” Không, họ hiểu hết, nhưng chỉ có 5 người tin vào những gì Kinh Thánh, sách Sáng thế ký 1:1-11:32, Xuất 20:1-26, Giăng 1:1-51, Cô-lô-se 1:1-29, Hê-bơ-rơ 1:1-14, Khải huyền 4:11 v.v...viết mà thôi. Họ đã bị tẩy não bởi chính cái thế giới này của Sa-tan và họ nghĩ rằng có hằng hà sa số những bằng chứng chứng minh cho một vũ trụ già, già lắm rồi.

Tiến sĩ John C. Whitcomb đã làm tất cả để giúp chúng ta trong quyển sách của ông, The Early Earth. Ông liệt kê và bàn luận nhiều những bằng chứng cho việc tin Kinh Thánh là thật như những gì đã được viết. Ông làm tương phản giữa đức tin nơi Đức Chúa Trời và Lời Ngài cùng niềm tin nơi tiến hóa và một quả đất lâu đời.

“...Một khoa học gia không phải Cơ Đốc nhân cần phải nhận biết rằng ông ta cũng đến với những hiện tượng thực, quan sát được với cả một hệ thống những giả thuyết và những điều phỏng đoán vốn phản ánh một ‘niềm tin sâu thẳm." Không một nhà khoa học nào trên thế giới ngày nay hiện diện lúc trái đất xuất hiện, cũng không một ai trong chúng ta có được đặc quyền ngắm xem những thế giới đang được sáng tạo ngày nay! Vì thế, lời chứng của một nhà tiến hóa chân thật cũng có thể được nói trên tinh thần của...He-bơ-rơ 11:3...rằng: "‘Bởi đức tin, tôi, một nhà tiến hóa, hiểu rằng vũ trụ đã không được thành hình bởi lời của bất cứ thần linh nào, vì thế những gì được thấy ngày hôm nay thực sự là những gì xuất phát từ những cái đã tồn tại trước đó, vốn là những thứ hữu hình và ít phức tạp hơn, bởi những quá trình hoàn toàn tự nhiên, trải qua hàng tỉ năm." Vì thế, đây không phải là vấn đề của những sự thật khoa học với đức tin của Cơ Đốc nhân! Điều cơ bản, trong vấn đề nguồn gốc ban đầu, chính là liệu một người sẽ đặt niềm tin của mình vào những lời của Đức Chúa Trời Hằng Sống, Đấng đã ở đó khi mọi thứ hình thành, hay anh ta đặt niềm tin của mình vào năng lực hèn mọn của trí thông minh con người, không được sự mặc khải thánh để ngoại suy những quá trình được quan sát trong hiện tại về bản chất của quá khứ vĩnh cửu (và tương lai). Đức tin nào là cái hợp lý hơn hết, kết quả hơn hết, và làm cho người ta thỏa lòng hơn hết? Trong kinh nghiệm của riêng tôi, khi đang nghiên cứu lịch sử địa chất và cổ sinh vật học tại trường đại học Princeton, tôi hoàn toàn tin tưởng nơi những suy luận của tiến hóa. Tuy nhiên, cũng từ đó, tôi khám phá ra chân lý của Thánh Kinh về nguồn gốc đầu tiên của mọi thứ, nó làm cho tôi thỏa lòng về mọi phương diện.

Các Cơ Đốc nhân, những ai thực sự muốn tôn vinh Đức Chúa Trời trong tư tưởng của họ, thì đừng đến với Sáng-thế ký 1 với một định kiến về cái gì đã có thể và đã không thể xảy ra (trong những quan niệm hiện tại đang thay đổi về tinh thần khoa học không biến đổi (uniformitarian scientism)). Chúng ta không phải là người khuyên bảo Đức Chúa Trời; Ngài là Đấng khuyên bảo chúng ta! “Vì, ai biết ý tưởng Chúa, ai là kẻ bàn luận của Ngài ?” (Rô-ma 11:34)... “Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu ” (Ê-sai 55:8-9) (The Early Earth : Revised Edition, tiến sĩ John C. Whitcomb, 1986, trang 52).

Là Cơ Đốc nhân, chúng ta có biết mình tin vào điều gì không? Chúng ta có sẵn sàng để trả lời mọi người sẽ bảo chúng ta chứng minh niềm tin của chính mình chưa (IPhi-e-rơ 3:15)?

TRÁI ĐẤT 6.000 NĂM TUỔI HAY 4.500.000.000 (4,5 TỈ) NĂM TUỔI 

Chúng ta bất đồng với nhau về hai quan điểm này (sự sáng tạo và một trái đất trẻ với sự tiến hóa và một trái đất già) như thế nào? Kinh Thánh đặt để từ “Ban đầu” khoảng 6.000 năm trước đây. Nhiều nhà tiến hóa đặt để cái ban đầu của trái đất khoảng 4,5 tỉ năm trước. Dennis Petersen cố giúp chúng ta hiểu mức độ khác nhau giữa hai lựa chọn của đức tin này:

“Một cách để hình dung những khác biệt trong sự lựa chọn của bạn là hãy giả sử một năm tương đương với một tờ giấy trong quyển Kinh Thánh bình thường. Nếu bạn chồng vài quyển Kinh Thánh lên đến khoảng ngang đầu gối, bạn sẽ có khoảng 6.000 trang trước mặt bạn.

Bây giờ bạn cần phải có bao nhiêu quyển Kinh Thánh để xếp thành một chồng có đủ 4,5 tỉ trang?

Chồng sách đó phải cao đến cỡ 114 dặm trong không khí.

traidat-1

Bây giờ, bạn đang đứng giữa hai chồng sách đó, và giả sử bạn sẽ phải chọn một bên để tin vào. Tại sao nó lại làm cho bạn cảm thấy e ngại khi thừa nhận rằng bạn nghiêng về chồng Kinh Thánh tương đương khoảng 6.000 năm? Hay tại sao bạn bắt đầu chế giễu cách ngạo mạn những ai dám không đồng ý với sự kiêu ngạo theo con số hàng tỉ của bạn?” (Unlocking the Mysteries of Creation , Petersen, trang 34).

Petersen đã liệt kê 35 hoặc 40 bằng chứng chứng minh trái đất trẻ. Đây là những bằng chứng khoa học thực thụ cho thấy rằng vũ trụ còn rất trẻ - về trật tự của vài ngàn hơn là vài tỉ năm, Petersen khẳng định:

“Các khoa học gia biết trên 70 phương pháp có thể cho chúng ta biết về tuổi của trái đất. Chúng ta có thể gọi đây là những “đồng hồ địa chất” (geologic clocks). Tất cả chúng đều dựa vào những thực tế rõ ràng rằng các quá trình tự nhiên đang diễn ra đều đặn theo thời gian cho ra những kết quả lũy tích (cumulative) và thường là đo đạc được. Hầu hết những “đồng hồ” này chứng minh một trái đất trẻ tuổi. Chỉ có một số rất ít cho ra kết luận hàng tỉ năm. Những cái ít ỏi đó được công bố rộng rãi và ầm ĩ lên để chứng minh cho một thuyết đã phổ biến về sự tiến hóa” (như trên, trang 35).

Những trường hấp dẫn (gravitational fields) của mặt trời và các ngôi sao kéo bụi vũ trụ về phía chúng. Điều này được biết đến như là hiệu ứng “Poynting-Robertson.” Mặt trời của chúng ta thu nhận ước chừng 100.000 tấn bụi vũ trụ mỗi ngày. Một mặt trời già cỗi ắt hẳn đã “kéo” vào và hủy diệt tất cả những mảnh nhỏ trong Thái Dương hệ của chúng ta. Nhưng Thái Dương hệ chúng ta vẫn còn đầy dẫy những mảnh nhỏ này! Hiệu ứng Poynting-Robertson đòi hỏi phải có một mặt trời và hệ thống thái dương ít hơn 10.000 năm tuổi. Petersen khẳng định:

“Tất cả các ngôi sao đều có trường hấp dẫn và hút những vật nhỏ như khí ga, bụi và sao băng nào ở trong tầm với của nó. Các ngôi sao phóng ra một năng lượng nhanh hơn mặt trời chúng ta đến 100.000 lần có một hiệu ứng hình xoắn ốc (spiraling effect), hút mọi thứ vào nhanh hơn. Điều khác thường là hai ngôi sao O và B được quan sát có một đám mây bụi khổng lồ bao quanh chúng. Nếu chúng đã quá già, mỗi vật nhỏ nằm trong tầm tác động của trường hấp dẫn đều đã biến mất từ lâu” (như trên, trang 44).

Hai loại ngôi sao có những đám mây bụi khổng lồ, và do đó, nó hoàn toàn trẻ. Chưa một ai từng thấy cảnh một ngôi sao ra đời, dầu rằng một số khoa học gia đã tính toán và vẽ nó trên máy vi tính và theo toán học lý thuyết, cỡ khoảng 3 ngôi sao mới sẽ được hình thành mỗi năm. Không một khoa học gia nào đã từng và sẽ được chứng kiến cảnh một ngôi sao hình thành vì Đấng Tạo Hóa đã sáng tạo tất cả những ngôi sao của Ngài vào ngày thứ tư của tuần lễ sáng tạo (Sáng thế ký 1:14-19). Vào mùa xuân 1992, một số nhà khoa học tuyên bố rằng họ đang quan sát một ngôi sao hình thành trong đám tinh vân (stellar heavens). Họ dùng những phương trình toán học khác nhau để đi đến kết luận đó. Tuy nhiên, nếu kết luận của họ trái ngược với Kinh Thánh, và điều Kinh Thánh chép, thì kết luận của họ hoàn toàn sai. Vậy chúng ta cứ ngồi chờ vài tháng hay vài năm rồi cuối cùng một nhà khoa học nào đó phải ngại ngùng mà thừa nhận rằng, “Chúng tôi quả là những người có lỗi, tất cả những bằng chứng ra đời quá tỉ mỉ đã dẫn chúng tôi đến chỗ tin rằng một ngôi sao mới đang hình thành, nhưng bây giờ chúng tôi biết rằng chúng tôi đã phạm phải sai lầm. Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm để xem có ngôi sao nào mới hình thành không, rồi chúng tôi sẽ công bố cho các bạn biết chừng nào chúng tôi tìm thấy nó.” Đức Chúa Trời đã sáng tạo ngôi sao cuối cùng của Ngài từ chỗ không có gì vào ngày thứ tư trong tuần lễ sáng tạo rồi!

Những nhà thiên văn học có thể thấy những ngôi sao chết đi từ khi tội lỗi xâm nhập vũ trụ, nhưng không có một vụ “sao-sinh” (star-birth - một ngôi sao mới ra đời - ND) nào đâu; Đức Chúa Trời đã hoàn thành sự sáng tạo vũ trụ của Ngài và đã ngơi nghỉ vào ngày thứ bảy. Nếu một ngôi sao (O hay B) và/hay một Thái Dương hệ (của chúng ta chẳng hạn) có một lượng đáng kể bụi vũ trụ và các sao băng trong khoảng không chung quanh nó, nó không thể có hàng tỉ năm tuổi đâu.

ÁNH SÁNG TỪ NHỮNG NGÔI SAO XA NHẤT

Có thể bạn nghĩ rằng, “Được rồi, nhưng còn tốc độ ánh sáng và việc cần phải có hàng triệu năm thì ánh sáng từ những ngôi sao xa nhất mới có thể đến đây thì sao?“ (Đây là một trong những vấn đề tôi suy nghĩ khi đang “tiến hóa” sang một nhà sáng tạo đầu những năm 1970.) À, trước hết, làm thế nào chúng ta biết rằng phải mất hàng triệu năm thì ánh sáng từ những ngôi sao xa nhất có thể đến được trái đất? Một giáo sư tiến hóa nào đó viết ra, hay một ông Walter Cronkite hay Dan Rather hay Carl Sagan nói với chúng ta? Dường như có một vấn đề ở đây phải không nào? Điều gì xảy ra nếu bạn khám phá ra rằng ánh sáng từ những ngôi sao xa nhất có thể đến trái đất ngay tức thì (Đức Chúa Trời đã tạo dựng ngôi sao và ánh sáng phát ra từ nó chiếu thẳng đến trái đất trong tích tắc. Chúng ta không thể bỏ qua khả năng này. Chúa chúng ta có thể làm được điều đó nếu Ngài muốn) hay chỉ trong vòng 3 ngày?

Tiến sĩ Barry Setterfield đã thực hiện những nghiên cứu đáng kể về vấn đề này. Những tài liệu của ông có thể tìm thấy trong Viện Nghiên Cứu về Sáng Tạo, Box 1607, El Cajon, CA 92022. Cũng nên xem qua tác phẩm Starlight and the Age of the Universe của Richard Niessen. Setterfield và Niessen đề ra bốn giải pháp có thể cho vấn đề ánh sáng từ những ngôi sao xa nhất. Thứ nhất, khả năng hoàn toàn có thể là Đức Chúa Trời đã tạo dựng tia sáng với bề ngoài đã có tuổi (trông như đã có từ rất lâu rồi - ND). Khả năng thứ hai là khoảng cách đến các ngôi sao này đã không được tính toán một cách chính xác. Điều này rất giống như khi những phương pháp được dùng để do các khoảng cách lớn trong vũ trụ đã được giám sát chặt chẽ trong sự giao hội hành tinh (conjunction) với những giả thuyết cơ bản của lượng giác học (trigonometry). Tác phẩm #121 của I.C.R. (Viện Nghiên Cứu về Sáng Tạo) đã khẳng định, “Không có gì bảo đảm rằng những khoảng cách thật trong không gian là xa xôi như những gì chúng ta đã được nghe.” Khi bạn ra khỏi Thái Dương hệ, để đo lường chính xác khoảng cách là một vấn đề khó khăn nhất.

Điều đáng lưu tâm thứ ba là ánh sáng có thể đã đi “đường tắt” (short-cut) xuyên qua không gian. Nhiều loại toán học khác nhau và nhiều giả thuyết khác nhau cùng các phán đoán đã đề ra những quan niệm hoàn toàn khác nhau về không gian và khoảng cách trong không gian. Những gì chúng ta biết về vũ trụ và không gian hãy còn ít ỏi vô cùng. Phương cách tính toán khoảng cách trong không gian chỉ được tính toán dựa trên hệ thống các quy tắc toán học và cũng như hệ thống các định đề (postulates) cơ bản của nó mà thôi.

Không gian vũ trụ có thể phẳng, nhưng cũng có thể cong. Nếu bạn nghĩ rằng không gian vũ trụ giống như một mặt phẳng, một đường thẳng, bạn sẽ sử dụng Hình Học Ơ-clit và những định đề (giả thuyết) của nó. Hình Học Ơ-clit được sử dụng để tính toán những khoảng cách rất lớn trong vũ trụ. Những tính toán của nó, phần lớn, là những tính toán trên đường thẳng.

Nhưng điều gì xảy ra nếu vũ trụ của chúng ta không thể đo lường bằng loại toán học đường thẳng từ nơi này đến nơi kia? Điều đó có nghĩa là tất cả những ngôi sao xa nhất có thể trở nên gần hơn nhiều so với những gì các sách giáo khoa dạy.

HÌNH HỌC PHI Ơ-CLIT (NON-EUCLIDEAN GEOMETRY)

Một phương cách hợp lý khác để tính toán khoảng cách ngoài không gian là dùng toán học Riemannian. Toán học Riemannian được phân loại thuộc vào nhóm hình học phi Ơ-clit. Nó nêu giả thuyết là không gian vũ trụ bị cong. Từ đó, hình học phi Ơ-clit cho ra những khoảng cách ngắn hơn từ trái đất đến các ngôi sao xa nhất. Niessen đã ghi lại những bài báo của Harnold Slusher (Age of the Cosmos, I.C.R. 1980) và Wayne Zage (The Geometry of Binocular Visual Space, tạp chí Mathematics số 53, 12/1980). Hai mươi bảy hệ thống hai ngôi sao quay quanh nhau (binary star systems ) đã được quan sát, và nó cho thấy rằng ánh sáng đi thành những đường cong trong vũ trụ. Nếu bạn đổi con tính đường thẳng từ hình học Ơ-clit sang đường cong toán học Riemannian, ánh sáng có thể đi từ những ngôi sao xa nhất đến trái đất trong vòng 15,71 năm, theo như Niessen ghi nhận. Con số này ít hơn hàng triệu năm phải không nào?

Hình học phi Ơ-clit có phù hợp không khi nó cho thấy những khoảng cách ngắn hơn từ những ngôi sao xa nhất? HSM Coxeter đã xuất bản một cuốn sách bị lãng quên năm 1942, tựa đề: Hình Học Phi Ơ-clit (Non-Euclidean Geometry). Coxeter khẳng định: “...Chúng ta vẫn không thể quyết định là thế giới thực bên ngoài không gian là Ơ-clit hay phi Ơ-clit (_).” Các khoa học gia không biết đâu là cách thích hợp để đo lường không gian cho đúng với thực tại của nó! Họ còn không chắc không gian vũ trụ bên ngoài như thế nào. Họ chưa từng ở đó (ra khỏi Thái Dương hệ và xa hơn nữa - ND) và không hề biết nó có hình dạng gì. Mọi thứ đủ gần với Thái Dương hệ của chúng ta để lấy những con số đo đạc và chính chúng (dầu rằng tất cả những cái này vẫn còn chứa đựng những giả thuyết) cho thấy dường như nó có hình cong dương (positive curvature). Điều đó có nghĩa là phương cách của Riemann về việc đo khoảng cách trong không gian có vẻ đúng hơn so với các phương pháp đo Ơ-clit. Niessen, khi đó, có được cơ hội còn tốt hơn khi ông đưa ra con số 15,71 năm để ánh sáng từ một ngôi sao xa nhất có thể đến hành tinh trái đất.

TỐC ĐỘ CỦA ÁNH SÁNG

Niessen thêm một nhân tố nữa: tốc độ ánh sáng. Các nhà khoa học đã tiến hành đo đạc tốc độ ánh sáng trên 300 năm nay, và nó có vẻ như đang chậm lại. Sử dụng phương trình để ngoại suy (extrapolate) trở lại, các phương trình có những con số được khảo sát và được ghi nhận cho việc chậm lại của tốc độ ánh sáng (bạn càng lùi trở lại quá khứ bao xa thì ánh sáng càng đi nhanh bấy nhiêu), ánh sáng từ một ngôi sao cách chúng ta năm tỉ năm ánh sáng (giả sử ngôi sao đó ở xa chúng ta đúng khoảng cách đó) có thể tới trái đất chỉ trong vòng 3 ngày!

Bạn đi đến kết luận gì từ những điều cơ bản ở trên? Bạn không cần phải tin khi một sách giáo khoa hay một nhà khoa học nào đó trong bộ áo trắng của phòng thí nghiệm nói với bạn rằng những ngôi sao ở cách xa chúng ta đến hàng triệu năm ánh sáng và có lẽ đến hàng tỉ tỉ dặm. Chẳng có bằng chứng vững chắc hay không thể bác bỏ được nào ở đây để chứng minh một vũ trụ đã 9 đến 20 tỉ năm tuổi.

Thế con số từ 9 đến 20 tỉ năm từ đâu ra? Một người tên là Hubble (bạn còn nhớ viễn vọng kính Hubble đã được đưa vào vũ trụ thời gian gần đây không?) đã xuất hiện với một công thức toán học lý thuyết để đo khoảng thời gian trở lại Vụ Nổ Lớn ban đầu. Những tính toán của ông ban đầu cho ra con số từ 18 đến 20 tỉ năm cho tuổi của vũ trụ. Rồi vài năm trước đây, một số các khoa học gia khác đã quyết định công bố rằng Hubble đã phạm phải sai lầm, rằng những tính toán của ông chỉ đúng 50%. Vì thế, tuổi của vũ trụ bị cắt xuống còn một nửa (từ 18-20 tỉ năm xuống còn 9-10 tỉ năm) bằng cuộc chiến trên giấy bút (stroke of pen). Một số khoa học gia vẫn còn giữ con số 20 tỉ năm. Họ nhận thấy rằng ngay cả 20 tỉ năm về mặt thống kê mà nói vẫn chưa đủ để vũ trụ tiến hóa.

SỰ ĐỐT CHÁY NĂNG LƯỢNG TRÊN CÁC NGÔI SAO

Bây giờ, chúng ta hãy trở lại và khảo sát thêm một số bằng chứng về một trái đất trẻ. Các nhà thiên văn học tính toán rằng những ngôi sao “O” và “B” có thể có nhiệt độ bề mặt lên đến 90.000oF (49.982,2oC). Điều đó có nghĩa là nó “...lớn hơn 100.000 lần so với năng lượng thoát ra từ mặt trời của chúng ta. Cứ đốt cháy lần theo tỉ lệ đó, và tính thời gian ngược lại, toàn thể vũ trụ chúng ta đầy dẫy những ngôi sao như thế chỉ khoảng vài ngàn năm trước đây!” (Petersen, trang 44).

Một số nhà tiến hóa sẽ phản đối, “Nhưng anh không thể lấy những quá trình hiện tại rồi lại ngoại suy trở lại như thế được.” Thế thì, các nhà tiến hóa làm gì để tìm ra và công bố những niên đại quá lâu đời của họ? Cũng vậy thôi! Họ ước lượng từ những quá trình diễn ra trong hiện tại chẳng hạn tỉ lệ phân rã (chu kỳ bán phân rã), và ngoại suy trở lại, cho rằng mọi thứ đều cứ như là ban đầu (I Phi-e-rơ 3).

NHỮNG CÂY THÔNG LÁ NHỌN, CỨNG VÀ CÓ HÌNH NÓN

Nếu trận lụt Thánh Kinh diễn ra khoảng 5.000 năm trước và phá hủy toàn bộ dạng sống thực vật trên cạn, thế thì chúng ta không thể tìm thấy cây cỏ nào có tuổi lớn hơn khoảng 5.000 năm. Cây thông lá nhọn, hình nón là một cây như thế đấy. Nó được gọi là một sinh vật lâu đời nhất trên đất và đã được tính toán niên đại cách chính xác vào khoảng 5.000 năm. Petersen khẳng định, “Hầu như tất cả những cây này đã được trồng trên mặt đất mới nguyên chỉ 5.000 năm trước” (Petersen, trang 38).

CÁC CON SÔNG CÒN TRẺ

Mỗi năm, dòng sông Mississippi mang hàng tấn và hàng tấn đất bị xói mòn đổ vào vịnh Mê-xi-cô. Các khoa học gia đã tiến hành đo lường sự phát triển của vùng đồng bằng sông Mississippi trong nhiều năm.

“Với tỉ lệ hiện tại, toàn thể vùng đồng bằng châu thổ sông Mississippi chỉ mới tích tụ trong khoảng 5.000 năm mà thôi. Nhưng khoa học biết rằng trong quá khứ, con sông này lớn hơn nhiều. Làm sao có thể như thế được? Dĩ nhiên là chỉ trừ khi lục địa Bắc Mỹ, và tất cả các lục địa khác cũng vậy, đã tồn tại ở đó cũng với khoảng thời gian lâu như thế” (Petersen, trang 38).

Một dòng sông khác mà các nhà khoa học cẩn thận xem xét là sông Niagara. Nó cũng dẫn đến việc kết luận rằng trái đất còn trẻ. “Vì bờ thác của nó sạt lở theo cùng một tỉ lệ hàng năm, và những nhà cổ sinh vật học đã nhận ra rằng nó chỉ có thể tồn tại được chừng 5.000 năm để có kích thước như hiện tại khi so với kích thước nguyên thủy của nó” (Petersen, trang 39).

Thường những khối bùn và đá dưới chân các thác nước, chẳng hạn thác Niagara, sẽ bị vỡ vụn ra, cho thấy những niên đại còn thấp hơn. Giả sử khoảng 200 năm sau, bạn quyết định bắt đầu tính toán tuổi của thác Niagara, nhưng bạn chưa biết rằng năm 1994, một phần đá lớn đã bị vỡ ra từ rìa thác. Bạn sẽ giả định rằng nó tốn đến hàng ngàn năm để cuốn đi nguyên cả khối đá đó khỏi bờ thác, nhưng thực tế việc đó xảy ra chỉ trong một tích tắc. Bạn sẽ cho rằng tuổi của cái thác già hơn nhiều so với tuổi thực sự của nó. Loại sai lầm này là những điều các khoa học gia thường mắc phải khi cố gắng xác định niên đại mọi thứ.

MẶT TRĂNG ĐANG XA DẦN  

Một bằng chứng nữa chứng minh trái đất trẻ đó là mặt trăng đang xa dần của chúng ta. Các nhà khoa học biết mặt trăng dạt ra khỏi trái đất nhanh như thế nào (khoảng 2 inch một năm).

Louis B. Slichter, giáo sư địa lý tại MIT viết: “Tỉ lệ thời gian (time scale) của hệ mặt trăng và trái đất vẫn còn là một vấn đề lớn” (Journal of Geophysical Research , số 14, 1964, bài “Secular Effects of Tidal Friction upon the Earth’s Rotation”).

Dennis Petersen tiếp: “...Tính ngược trở lại, mặt trăng tách ra khỏi trái đất khoảng 2 tỉ năm trước đây. Dĩ nhiên, điều đó thật buồn cười. Nhìn từ một góc độ khác: Với tốc độ hiện thời và bắt đầu từ một khoảng cách thực, nếu trái đất đã 5 tỉ tuổi, thì hiện tại, mặt trăng sẽ bị biến khỏi tầm nhìn!” (Petersen, trang 43).

ĐÁ MẶT TRĂNG 

Khi những hòn đá đầu tiên trên mặt trăng được xác định niên đại vào những năm 1970, NASA công bố tuổi của đá vào khoảng 4 đến 4,5 tỉ năm. Vài năm sau, và nhiều hòn đá sau đó được đem về, họ lại công bố rằng tuổi của những hòn đá trên mặt trăng nằm trong dãy từ 3 đến 4,5 tỉ năm. Tôi đã gọi điện cho một trong số những nhà địa chất học, người xác định niên đại của đá và cuộc hội thoại diễn ra như sau:

“Tôi chú ý thấy là những tin tức gần đây cho biết rằng tuổi của đá mặt trăng đã được điều chỉnh trong dãy (range) 1,5 tỉ năm. Đó quả là một khác biệt quá lớn về ngày tháng! Có dãy nào còn lớn hơn như thế chăng?”

“Ồ có chứ, một dãy kéo dài từ vài ngàn năm đến 20 tỉ năm.”

“Thế thì, tại sao NASA chỉ công bố con số 1,5 tỉ năm thay vì dãy 20+ tỉ năm?”

“Chúng tôi không muốn làm cho công chúng hoang mang. Chúng tôi biết mặt trăng đã được khoảng 3 đến 4,5 tỉ năm, vì thế chúng tôi gọi những niên đại nằm ngoài dãy đó là không phù hợp và bỏ chúng đi.”

Rõ ràng là một số nhà khoa học đã quyết định rằng mặt trăng khoảng 3 đến 4,5 tỉ năm từ trước. Điều gì xảy ra nếu, bất luận niềm tin nơi sự phỏng đoán trước đó của họ, niên đại vài ngàn năm là đúng và phù hợp? À, điều đó sẽ ủng hộ sự sáng tạo đặc biệt và đánh đổ khả năng có thể của tiến hóa (vốn đòi hỏi phải tốn nhiều triệu năm ròng). NASA làm như vậy thật không thể chấp nhận được. Hay chuyện gì sẽ xảy ra nếu con số 20+ tỉ năm là đúng? Điều đó đánh đổ những tính toán của Hubble, và thời điểm của Vụ Nổ Lớn một lần nữa lại bị “túm lấy.” Các nhà khoa học này có thể phản đối, nói rằng: “Nhưng chúng tôi dùng một đường cong có hình cái chuông (bell-shaped curve) để đi đến kết luận về những niên đại của chúng ta.” Thế thì điều gì xảy ra nếu những giả thuyết mà họ đã dựng nên để tính toán niên đại lại uốn đường cong đó theo một chiều khác thì sao? Chúng ta thảy đã biết rằng 3 giả thuyết chính (đề cập trong phần đầu của chương) luôn luôn được áp dụng khi các khoa học gia tính toán niên đại đều không phù hợp.

Bạn có thể hỏi một nhà thiên văn khác rằng mặt trăng của chúng ta và những hòn đá trên nó từ đâu tới. Một số câu trả lời kỳ khôi sẽ đang chờ đón bạn! Các khoa học gia tiến hóa chẳng hề biết từ đâu mặt trăng tới cả. Một nhà sáng tạo tin rằng Thượng Đế của Thánh Kinh đã tạo dựng mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao vào ngày thứ tư của tuần lễ sáng tạo (Sáng thế ký 1:14-19). Không hề có thông tin khoa học thực tế, vững chắc nào bác bỏ việc mặt trăng vẫn còn rất trẻ. Tất cả những niên đại già nua được gán cho mặt trăng đều không chính xác vì chính những giả thuyết đề ra trong kỹ thuật tính niên đại hoàn toàn không phù hợp với thực tại (vũ trụ - ND).

NHỮNG SAO CHỔI NGẮN HẠN (SHORT-TERM COMETS)

Hết lần này sang lần khác, các sao chổi lướt ngang qua trái đất. Chẳng những các khoa học gia không thể nói với chúng ta mặt trăng đến từ đâu, họ cũng chẳng thể nói với chúng ta các sao chổi có cội nguồn là gì hay ở đâu. Các sao chổi mà những nhà thiên văn học đã tính toán có cuộc đời không nhiều hơn 10.000 năm. Nếu tuổi vũ trụ ở vào khoảng nào đó giữa 9 đến 20 tỉ năm, và các thiên thể được hình thành từ Vụ Nổ Lớn, tiến hóa bị đẩy vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan cam go vì phải đề ra các giả thuyết về những sao chổi tồn tại trong những khoảng thời gian ngắn, vốn nó chẳng thể chứng minh. Dầu sao đi nữa, bạn ắt sẽ phải thán phục trí tưởng tượng của những con người này. Một số thực sự tin rằng sao Mộc phóng ra những sao chổi từ những ngọn núi lửa cao ngất của nó. Vấn đề duy nhất là những sao chổi tồn tại trong một thời gian ngắn chẳng phải được tạo nên từ sao Mộc, và quỹ đạo của chúng chứng tỏ chúng chẳng liên quan gì đến sao Mộc, đừng nói là “mẹ.” Scott Huse nói rằng:

“Những sao chổi bay quanh mặt trời được cho là có cùng tuổi với Thái Dương hệ. Mỗi lần một sao chổi quay quanh mặt trời, một phần nhỏ khối lượng của nó bị đốt nóng đến bốc hơi. Những cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy rằng ảnh hưởng của sự đốt nóng (vật chất - ND) đến bốc hơi và biến đi này tác động vào những sao chổi ngắn hạn sẽ làm chúng bốc hơi hoàn toàn trong khoảng 10.000 năm. Dựa trên dữ kiện rằng vẫn còn có hằng hà sa số sao chổi đang bay chung quanh mặt trời, mà lại chẳng có một nơi nào trong vũ trụ sản sinh ra những sao chổi mới được biết đến (tức là không hề có sao chổi mới ra đời - ND), chúng ta có thể suy ra rằng Thái Dương hệ của chúng ta không thể già hơn 10.000 năm tuổi. Cho tới ngày nay, không có lời giải thích thỏa đáng nào để đánh đổ bằng chứng này về một Thái Dương hệ trẻ tuổi của chúng ta” (The Colapse of Evolution , Scott Huse, trang 28, 29).

TỪ TRƯỜNG CỦA TRÁI ĐẤT

Một thí nghiệm về từ trường trái đất chứng minh rằng trái đất không thể quá già, vì từ trường trái đất đang giảm dần sức hút của nó. Tiến sĩ Thomas Barnes đã làm hàng loạt các thí nghiệm về sự sút giảm của từ trường trái đất. Kết luận từ những công việc của ông cho thấy rằng tuổi trái đất thấp hơn 10.000 năm (Origin and Destiny of the Earth’s Magnetic Field , Barnes, 1973). Một cách tự nhiên mà nói, cộng đồng tiến hóa cho rằng công việc của Barnes là không đúng, nhưng Barnes đáp lời cho sự cáo buộc của họ một cách hoàn toàn đơn giản và hiệu quả trong quyển sách #122 của I.C.R. vào tháng 8/1983 với tiêu đề: Tuổi Của Từ Trường Trái Đất: Tử Điểm Của Tiến Hóa (Earth’s Magnetic Age: The Achilles Heel of Evolution ). Từ trường trái đất ngày càng trở nên yếu đi và người ta có thể đo đạc được điều đó.10.000 năm trước, nó có thể đã quá mạnh nên không thể duy trì sự sống . Nếu sự sống không thể tồn tại khoảng 10.000 trước đây vì sức mạnh siêu hạng của từ trường trái đất, thì tiến hóa không có thời gian để xảy ra.

MẶT TRỜI CỦA CHÚNG TA ĐANG CO LẠI

Gần đây, một cuộc tranh cãi đã nổi lên về sự co lại (shrinking) của mặt trời. Nếu những tính toán của John Eddy và Adam Boornazian là đúng (Analysis of Historical Data Suggest the Sun is Shrinking, tờ báo Vật Lý Thời Nay (Physics Today ), số 32, tháng 9/1979), thì 1 triệu năm trước đây, mặt trời quá nóng để sự sống có thể tồn tại trên mặt đất. Điều này sẽ đánh đổ khả năng về những khoảng thời gian dài mà tiến hóa đòi hỏi. Các nhà tiến hóa và những nhà tiến hóa hữu thần đã nhảy vào và chứng minh Eddy sai. Những người khác bây giờ lại tuyên bố các đo đạc về sao Thủy quay quanh mặt trời hàng năm chứng tỏ rằng kích cỡ của mặt trời vẫn không thay đổi. Chúng ta sẽ chờ xem vấn đề này sẽ đi đến đâu (_).

NHỮNG VÒNG PHÓNG XẠ (RADIOHALOS)

Một bằng chứng không thể bác bỏ chứng minh trái đất chúng ta còn trẻ đã được Robert V. Gentry đưa ra qua những nghiên cứu của ông về những vòng phóng xạ trong gỗ đã hóa thành than đá. Những nhà tiến hóa tin rằng than đá tại cao nguyên Colorado đã có hàng trăm triệu năm tuổi. Nhưng cái “đồng hồ” vòng phóng xạ (radio-halo clock) của Gentry lại cho ra khoảng thời gian chỉ vài ngàn năm.

Gentry khám phá ra rằng có một lượng rất nhỏ uranium trong các mỏ than đá này. Tác động của phóng xạ uranium (radioactive uranium) sẽ hình thành nên những vòng phóng xạ trên than.

“Khi các mẫu uranium phân rã, tia phóng xạ tỏa ra khắp các hướng và xâm nhập vào trong than dù với một khoảng cách ngắn nhưng rất chính xác điều này được quyết định do chính năng lượng phóng xạ. Theo thời gian, lượng phóng xạ được phóng ra này sẽ làm thay đổi màu của than đá, tạo nên một hình cầu phân biệt và rất dễ thấy chung quanh trung tâm của lượng uranium. Những hình cầu nhỏ xíu này có màu khác hơn màu của than đá, bao quanh trung tâm của khối uranium rất nhỏ (phải dùng đến kính hiển vi mới thấy - ND) được gọi là những vòng phóng xạ. Những vòng phóng xạ đó là chuyên môn của Gentry” (It’s a Young World After All : Exciting Evidences for Recent Creation , Paul D. Ackerman, 1986, trang 104, 105).

Làm thế nào một chút xíu uranium đó lại có ở trong than đá và hình thành nên những cái vòng đó? Ackerman viết tiếp: “Xem xét trung tâm phóng xạ, một lượng rất nhỏ uranium đã, vào lúc nào đó trong quá khứ, có ở đó trước khi gỗ cứng lại thành ra than đá. Khi khối uranium trải qua quá trình phân rã, một lượng chì được tạo thành. Một khi than đá đã hình thành và khối uranium bị đóng kín bên trong, đồng vị của chì bắt đầu tích lũy ngay tại chỗ đó...Gentry đã tìm thấy tỉ số uranium/chì tại mỏ than ở cao nguyên Colorado trong cấu trúc của than và những thông tin này khẳng định rằng nó chỉ mới vài ngàn tuổi” (như trên, trang 105).

Những cái vòng bao quanh khối chất phóng xạ tí xíu trong than đá và đã cho biết tuổi của than đá chỉ mới vài ngàn năm mà thôi. Than đá ở cao nguyên Colorado có lẽ đã được hình thành từ suốt thời kỳ đoán phạt thế giới bằng nước lụt trong thời Nô-ê, khi Đức Chúa Trời hủy diệt hệ thống trời và đất #1.

Gentry cũng tìm thấy những vòng như vậy của poloni ở đá gra-nít tại Precambrian. Đây là những hòn đá người ta cho là cao tuổi nhất trên địa cầu. Đá Precambrian được gọi là đá mẹ (basement rock) của đất vì người ta cho rằng nó cổ xưa hơn hết thảy những thứ đá khác. Ackerman ghi lại công việc của Gentry:

“Câu hỏi Gentry đặt ra cho những nhà tiến hóa là làm sao poloni cũng như những cái vòng của chúng xuất hiện trong loại đá mẹ gra-nít (basemen granite)...

Điều khó hiểu là: Nếu đá gra-nít đã chai cứng lại, thì poloni không thể xâm nhập vào ngay chỗ của nó hiện giờ. Nhưng nếu đá gra-nít không cứng, thì không một cái vòng nào có thể hình thành cả. Vì thế, Gentry nói rằng khoảng thời gian chuyển từ trạng thái thẩm thấu qua được, và còn lỏng thành trạng thái hiện nay của đá gra-nít là cực ngắn. Ngắn như thế nào? Khi nghiên cứu một đồng vị của poloni, Gentry phát hiện rằng chu kỳ bán phân rã của nó chỉ kéo dài 3 phút! Một đồng vị khác của nó có chu kỳ bán phân rã chỉ kéo dài trong 164 phần triệu giây (microseconds)!

Theo thuyết tiến hóa, thời gian cần thiết cho việc nguội dần và đặc cứng của loại đá gra-nít này kéo dài đến hàng triệu và hàng triệu năm. Gentry tin rằng những vòng tròn này là một bằng chứng mạnh mẽ chống lại tiến hóa và việc đòi hỏi quá nhiều thời gian của nó. Ông tin rằng những vòng tròn này nói lên sự định hình (formation) rất nhanh chóng của những hòn đá cứng chắc này” (_) (như trên, trang 108-110).

Những vòng phóng xạ trong đá mẹ Precambrian có thể khẳng định một tuổi thọ ngắn của những hòn đá “lâu đời nhất” trên địa cầu. Walter T. Brown, Jr., (In The Beginning ), đã liệt kê khoảng 30 đồng hồ cho việc định tuổi của quả đất với con số chừng vài ngàn năm. Ông đề cập đến một sự phân tích các khí (chẳng hạn khí heli) trong bầu khí quyển và đưa ra một niên đại trẻ (vài ngàn năm) cho tuổi của bầu khí quyển. Trầm tích của các con sông và tỉ lệ xói mòn khẳng định rằng trái đất không thể tồn tại lâu đến hàng triệu năm.

CÁC VÀNH ĐAI HÀNH TINH (PLANETARY RINGS)

thaiduonghe
Một cuộc nghiên cứu về các vành đai bao quanh vài hành tinh cũng đưa ra một niên đại trẻ trung cho Thái Dương hệ chúng ta.

“Vành đai bao quanh sao Thổ, sao Uranus, sao Mộc, sao Hải Vương đã nhanh chóng bị bắn phá bởi các vẩn thạch. Vành đai sao Thổ chẳng hạn, sẽ bị phá hủy trong 10.000 năm. Do điều này chưa xảy ra, các vành đai hành tinh vẫn còn rất trẻ...

Sao Mộc và sao Thổ phát ra một năng lượng gấp đôi số năng lượng chúng nhận từ mặt trời. Sao Kim cũng phát ra rất nhiều năng lượng. Các tính toán cho thấy nguồn năng lượng này hình như không phải đến từ sự nấu chảy hạt nhân (nuclear fusion), cũng không phải do sự phân rã phóng xạ, càng không phải sự gia giảm trọng lực (gravitational contraction) hay những thay đổi pha (phase changes) với các hành tinh đó. Chỉ có một giải thích có thể chấp nhận được đó là những hành tinh này còn quá trẻ nên chưa đủ thời gian để nguội đi” (như trên, trang 18).

CÁC CHÒM SAO (STAR CLUSTERS)

Sự tồn tại của các chòm sao gợi cho chúng ta một vũ trụ trẻ. Những chòm sao của các ngôi sao dày đặc đang di chuyển trong vũ trụ với tốc độ siêu âm. Các nhà khoa học tin rằng chính trọng lực duy trì những ngôi sao đang đi nhanh này co cụm lại với nhau. Nhưng các nhà khoa học không biết làm thế nào mà những ngôi sao này có thể co cụm lại với nhau qua suốt hàng triệu năm trong khi đang di chuyển với tốc độ nhanh như vậy. Chúng ắt hẳn đã tách ra và tan thành từng phần. Nhưng chúng vẫn là một chòm sao. Câu trả lời duy nhất cho vấn đề tiến thoái lưỡng nan này của các nhà tiến hóa đó là sự sáng tạo vài ngàn năm trước, chứ không phải Vụ Nổ Lớn hàng tỉ năm về trước.

NGỌN NÚI ST. HELENS

Khi tất cả những bằng chứng khác được đưa ra hòng minh chứng cho một vũ trụ lâu đời đã sụp đổ, các nhà tiến hóa trở lại với những hòn đá và các cấu trúc của đá, cái mà người ta nghĩ rằng cần phải tiêu tốn nhiều khoảng thời gian dài để hình thành. Vụ nổ ngọn St. Helens vào 18/05/1980, và sự hình thành nhanh chóng của những hệ thống địa chất (geologic systems) quanh nó là một thách thức trước những lời tuyên bố của địa chất lịch sử (historical geology). Tiến sĩ Steve Austin và đội ngũ thuộc Viện Nghiên Cứu về Sáng Tạo đã ghi lại biến cố vụ nổ của ngọn St. Helens. Một số kết quả đáng ngạc nhiên về việc núi lửa phun trào đã đang được nghiên cứu.

“Một vỉa đá dày đến 600 bộ (khoảng 200 m) đã được hình thành từ 1980 tại ngọn St. Helens. Những khoáng sản chồng chất lên nhau, từ vụ nổ khí, lở đất, sóng trên hồ, những dòng chảy của các khoáng chất đổi màu (pyroclastic flows), những dòng chảy của bùn, khí lắng đọng (air fall) và nước từ các con suối...Ngọn St. Helens cho chúng ta biết rằng những lớp phân tầng (stratified layers) thông thường hình thành những đặc tính cấu trúc địa chất có thể được hình thành rất nhanh chóng qua các quá trình chảy (flow processes)” (Mount St. Helens and Catastrophism , I.C.R. #157, 1986, trang 1, 2).

Nói cách khác, những gì các nhà địa chất học nghĩ phải mất hàng ngàn hay hàng trăm ngàn năm mới hình thành như một cột đá (column of rock) thì trên thực tế đã hình thành tại ngọn St. Helens, dưới sự quan sát của các nhà khoa học, chỉ trong không đầy 11 năm! Có lẽ để hình thành những vỉa đá, thật sự chẳng cần đến hàng thiên niên kỷ gì cả.

Một hiện tượng thú vị khác tại ngọn St. Helens trong vụ nổ có tính địa chất lớn là cấu trúc biểu kiến (apparent formation) của những cái ban đầu (the beginnings) của polystrate hóa thạch trong vòng 5 năm. Năm 1985, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng những loài cây ngậm nước (water-soaked) nổi lên trên còn rễ thì cắm sâu xuống tận đáy hồ Spirit. Những cây này: “...ngẫu nhiên không mọc thành bụi, trên đáy hồ, và có bề ngoài giống như một khu rừng ở đúng chỗ (in situ) của nó.

Việc lặn sâu xuống dưới nghiên cứu những thân cây trầm tích thẳng đứng cho thấy rằng một số đã bị chôn vùi rất chặt bởi quá trình trầm tích (sedimentation), với lớp trầm tích dày hơn 3 bộ quanh gốc của chúng. Điều này cho thấy rằng những cây đứng thẳng đã bị trầm tích hóa (deposited) vào những thời điểm khác nhau, và những bộ rễ của chúng được chôn ở nhiều lớp khác nhau. Nếu đã được tìm thấy trong các địa tầng (straigraphic record), những cây này có thể được coi là các khu rừng rậm mọc trên nhiều lớp khác nhau qua những thời kỳ khác nhau trong khoảng vài ngàn năm. Những gốc cây trầm tích thẳng đứng ở hồ Spirit là những gợi ý đáng lưu tâm cho việc làm sáng tỏ ‘những khu rừng hóa thạch’ trong lớp đá trầm tích” (Austin, ICR #157, trang iii).

Tất cả điều này có nghĩa gì? Có một bãi trầm tích các hóa thạch (một cây mọc thẳng qua vài địa tầng hay vỉa đá trầm tích) tại Nova Scotia dày trên 2.000 bộ với những cái cây đứng thẳng và ngã ngang ở nhiều lớp khác nhau xuyên qua các vỉa đá. Những nhà địa chất học đã tuyên bố rằng một cấu trúc địa tầng như cấu trúc ở tại Nova Scotia này phải mất hàng trăm hay hàng ngàn năm mới hình thành. Sau khi nghiên cứu những cây ngậm nước ở hồ Spirit, các nhà khoa học đang xem xét lại. Có lẽ không tốn nhiều thời gian để hình thành những hóa thạch polystrate (các hóa thạch của nhiều lớp trầm tích - ND) như trước đây người ta đã từng nghĩ. Những cây đó ở hồ Spirit đang đứng thẳng thì bị chôn trong mớ vật chất sau này trở thành đá trầm tích - nhưng chỉ cần khoảng thời gian không nhiều hơn 14 năm, chẳng phải hàng trăm hay hàng ngàn năm!

Một trái đất trẻ trung đã được ủng hộ với nhiều bằng chứng như thế, những bằng chứng chỉ có thể trả lời với một địa cầu đã từng là một nhà kính và thình lình (trong trận Đại Hồng Thủy), hai đầu cực đã trở nên băng giá vĩnh cửu, thì tại sao những nhà tiến hóa vẫn cứ bám vào học thuyết của họ? Chỉ một câu trả lời đáng tin cậy mà thôi: Họ không muốn hạ mình xuống, khiêm cung mà vâng phục chính Đấng Tạo Hóa của họ. Họ từ chối chấp nhận Thượng Đế dẫu rằng Ngài đã bày tỏ chính mình Ngài cho họ qua sự sáng tạo. Tiến hóa từ một phân tử đến người là một lời dối trá và là một suy đoán xuẩn ngốc của những con người phản nghịch lại Đấng Tạo Hóa của họ.

“Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật. Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được, vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa, song cứ lầm lạc trong ý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại ” (Rô-ma 1:18-22).

TẠO VẬT KỲ DIỆU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Con Chim Gõ Kiến

chimgoKien
Nếu có loài động vật nào phá vỡ hết những quy luật của tiến hóa theo cách mà nó không thể tiến hóa được, thì nó cần phải có một Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo nên nó. Con chim gõ kiến là một trong những loài động vật đó.

Cái mỏ của con chim gõ kiến không giống với cái mỏ của những loài chim khác. Nó đã được thiết kế để gõ thủng những thân cây cứng cáp nhất. Nếu con chim gõ kiến tiến hóa, làm thế nào nó phát triển cái mỏ dày và chắc này? Chúng ta hãy giả sử một con chim nào đó nghĩ rằng phải có tất cả những loài côn trùng (critters) nhỏ bé bên dưới vỏ cây để làm thức ăn cho nó. Con chim này quyết định khoét một lỗ xuyên qua vỏ cây và vào cả thân cây cứng. Ngay cú gõ đầu tiên, con chim này đã gặp phải vấn đề với phương cách của mình. Cái mỏ của nó bị vỡ ra khi nó gõ mãi vào thân cây, lông đuôi nó rụng ra, và nó bị chứng đau nửa đầu rất nặng.

Với một cái mỏ đã bị vỡ, một con chim bé nhỏ không thể ăn và thế là nó chết. Thế là bây giờ con chim bắt đầu nghĩ, “Ta phải tiến hóa để có một cái mỏ dày hơn và lông đuôi chắc hơn và một cái gì đó giúp ta tránh được cơn đau đầu.” Dĩ nhiên là không. Những con vật đã chết chẳng thể tiến hóa được. Nhưng con chim gõ kiến không chỉ có một cái mỏ “cứng như thép,” mà nó cũng có một cái sụn giữa phần đầu và phần mỏ để hấp thu những chấn động từ việc gõ mỏ liên tục vào thân cây. Những con chim gõ kiến trở về tổ, và đầu chẳng đau nhức gì hết.

Để giúp tiêu hao các chấn động từ việc gõ mỏ liên tục, con chim gõ kiến có những cái lông đuôi đàn hồi độc nhất vô nhị. Nó dùng những cọng lông đuôi của mình và đôi bàn chân mà hình thành một cái “kiềng ba chân” (tripod effect) khi nó đeo trên cây. Ngay cả chân nó cũng đã được tạo dựng cách đặc biệt để giúp nó đi lên, đi xuống, đi qua, đi lại và quay vòng các thân cây cách dễ dàng. Bàn chân của con chim gõ kiến có hai ngón ở phía trước và hai ngón ở phía sau. Hầu hết các loài chim khác có ba ngón phía trước và một ngón phía sau.

“Kiểu bàn chân”hai cộng hai” (2-plus-2) ngón này cùng với những cọng lông đuôi cứng nhưng co giãn được (đàn hồi - elastic) cho phép một con chim gõ kiến bám chặt vào thân cây và làm cân bằng chính mình trên một bề mặt thẳng đứng. Khi con chim gõ kiến đu trên cây để đục một cái lỗ, lông đuôi của nó uốn cong và xòe rộng ra, chống đỡ vào thân cây xù xì. Theo cách này, chân và lông của nó làm thành một cái kiềng ba chân hiệu quả để giữ thăng bằng trong khi gõ liên tục vào thân cây” (The Natural Limits to Biological Change , Lane P. Lester và Raymond G. Bohlin, 1984, trang 24).

Giả sử bằng một cách nào đó, có một con chim biết rằng có thức ăn bên dưới vỏ cây, nó phát triển một cái mỏ khỏe, cứng, một khối sụn giảm sốc giữa phần đầu và phần mỏ, phát triển khả năng di chuyển đầu của nó nhanh hơn bạn búng ngón tay của mình, phát triển bàn chân “hai cộng hai” ngón và những cọng lông đuôi cứng nhưng đàn hồi được. Con chim này vẫn còn gặp phải một vấn đề lớn. Nó sẽ chết đói. Làm thế nào nó kéo được con mồi của mình ra khỏi những đường đi bé xíu của loài côn trùng trong thân cây? Bạn có bao giờ thử kéo một ấu trùng của một loài côn trùng nào đấy ra khỏi chỗ ở của nó xem? Nó bám chặt lắm!

Đức Chúa Trời đã chăm sóc con chim gõ kiến cách diệu kỳ bằng cách tạo cho nó một cái lưỡi dài hơn cái lưỡi của những con chim bình thường đến vài lần. Lester và Bohlin nói:

“...Cái lưỡi của một con chim gõ kiến tự nó đã là một loại đặc biệt. Khi đục vào thân cây, con chim gõ kiến thỉnh thoảng bắt gặp những đường đi của các loài côn trùng. Lưỡi của nó vừa dài lại vừa nhỏ và nó dùng để dò tìm côn trùng trong những “đường hầm” này. Phần đầu lưỡi trông giống như đầu của một cái chĩa mũi nhọn với một số gai (barbs) hay lông (hairs) hướng về phía sau. Những cái này giữ chặt con côn trùng khi cái lưỡi mang nó vào trong miệng. Một chất dính giống như keo bao phủ cái lưỡi cũng giúp ích rất nhiều cho quá trình này” (như trên, trang 24).

Thật là một tạo vật kỳ thú! Con chim gõ kiến không chỉ có những cái gai nhỏ ở đầu lưỡi, nó cũng có một “nhà máy sản xuất keo mi ni.” Và chất keo dính đảm bảo cho những con côn trùng khỏi tuột mất, nhưng không hề dính vào cái mỏ của con chim gõ kiến. Sự sáng tạo của Đức Chúa Trời quả là tuyệt vời phải không!

Nhưng chưa hết đâu. Hầu hết các loài chim đều có một cái lưỡi và cái mỏ cùng chiều dài với nhau. Lưỡi của con chim gõ kiến đã làm cho các nhà tiến hóa phải đau đầu. Nó có thể dài hơn rất nhiều, tính từ đầu ngoài cùng của cái mỏ, khi nó “le” ra để tìm các ấu trùng trong các “đường hầm” làm thức ăn. Thế giới động vật không có một loài nào có cái lưỡi dài tương tự như của con chim gõ kiến. Cái lưỡi của một số loài chim gõ kiến không xuất phát từ cổ họng, ra miệng như những loài khác. Loài chim gõ kiến xanh Châu Âu (European Green woodpecker) có cái lưỡi ở tuốt bên dưới cổ họng, đi lên đằng sau cổ “...vòng qua hộp sọ, ở dưới da đầu, và ra ngoài ở một điểm giữa hai mắt, thường ngay dưới hốc mắt...” Ở một số loài gõ kiến, cái lưỡi đi ra khỏi hộp sọ giữa hai con mắt và đi vào cái mỏ thông qua một trong số những lỗ mũi của nó! Điều này tiến hóa thế nào đây? Và con chim gõ kiến tiến hóa từ tổ tiên nào để có thể thừa hưởng một cái mỏ, những bàn chân, những cọng lông đuôi, khối sụn hấp thu chấn động, hộp sọ dày và một cái lưỡi độc nhất vô nhị đó?

Con chim gõ kiến cho thấy sự vinh hiển của Đấng Tạo Hóa, cũng chính là Đấng Tạo Hóa chúng ta. Tại sao những nhà tiến hóa nghiên cứu một tạo vật kỳ diệu của Thượng Đế, chẳng hạn con chim gõ kiến, rồi vẫn từ chối tin nơi Ngài, Đấng Tạo Hóa? Chỉ một câu trả lời có ý nghĩa: Sự kiêu ngạo! Kiêu ngạo! Và kiêu ngạo! Một người theo chủ nghĩa nhân văn nghĩ rằng: “Thật hợp lý lắm! Tôi là chủ định mệnh tôi, tôi là thủ lĩnh linh hồn mình...” Sự kiêu ngạo mù quáng này không xứng đáng để Đức Chúa Trời đoái thương, lại còn đề cao con người là chủ tể của tất cả mọi sự. Đã đến lúc chúng ta phải hạ mình xuống và quỳ trước Đấng Tạo Hóa công bình duy nhất!

IISử ký 7:14, 15 chép rằng: “Và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ. Bấy giờ, mắt ta sẽ đoái xem, lỗ tai ta sẽ lắng nghe lời nào cầu nguyện tại nơi này .”

IPhi-e-rơ 5:5-7 chép rằng: “Vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, mà ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Vậy hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời, hầu cho đến kỳ thuận hiệp Ngài nhắc anh em lên, lại hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em.”

Phi-líp 2:3-11 chép rằng:  “Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa. Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ, chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người, Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất thảy đều quỳ xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha.”

 

tiếp theo bấm trang 11 ở trên...

P11

 

LỜI CẦU NGUYỆN

 "Lạy Chúa, xin thương xót con tùy theo sự nhơn từ cả thể của Ngài, tùy theo sự dư dật của lòng thương xót Ngài phủ bao sự vi phạm của con. Cha ôi! Xin hãy rửa sạch mọi tội lỗi con, hãy thanh tẩy lòng con khỏi mọi ô uế xấu xa con đã từng phạm phải. Chúa ôi! Con biết sự vi phạm của con: Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy thương xót con tùy lòng nhơn từ của Chúa; xin hãy xóa các sự vi phạm con theo sự từ bi rất lớn của Chúa. Xin hãy rửa con cho sạch hết trọi gian ác, và làm con được thanh khiết về tội lỗi con. Vì con nhận biết các sự vi phạm con, tội lỗi con hằng ở trước mặt con. Con đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, và làm điều ác trước mặt Chúa; hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, và được thanh sạch khi Chúa xét đoán.

Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch tội lỗi con, thì con sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa hãy rửa con, thì con sẽ nên trắng như tuyết, hãy cho con nghe sự vui vẻ mừng rỡ, để các xương cốt mà Chúa đã bẻ gãy được khoái lạc. Xin Chúa ngoảnh mặt khỏi các tội lỗi con, và xóa hết thảy sự gian ác con. Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy dựng nên trong con một lòng trong sạch và làm cho mới lại trong con một thần linh ngay thẳng." (Thi thiên 51:1-4, 7-10).

"Ôi! Đức Chúa Cha, Ngài thật vinh hiển. Ôi tạ ơn Ngài, Chúa Jêsus của con, Ngài đã ban cho con những ơn phước thuộc linh từ trên nơi cao kia: Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng con, Ngài đã xuống phước cho chúng con trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời, trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng con trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, bởi sự yêu thương của Ngài đã định trước cho chúng con được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng con cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài! Ấy là trong Đấng Christ, chúng con được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài". (Ê-phê-sô 1:3-7).

Chúa Jêsus ôi! Con tin nơi Ngài, là Cứu Chúa và Chủ đời sống con. Hãy giúp con bước đi bên Ngài không thôi, để con được hầu việc Ngài kết quả trong mọi công việc, và xin khiến con biết Ngài nhiều hơn (Cô-lô-se 1:10).

Kết Luận

Bạn không cần phải vứt bỏ khỏi tâm trí mình bất cứ bằng chứng khoa học thực nghiệm nào có thể kiểm chứng được để tin vào sự sáng tạo trong 6 ngày-24-giờ xảy ra khoảng 6.000 năm trước. Chúng ta có thể tin rằng Đấng Tạo Hóa của chúng ta, Cứu Chúa Jêsus, đã sáng tạo mọi thứ với vẻ ngoài đã có tuổi. Ngài bày tỏ quyền năng tối thượng của Ngài qua những việc làm không cần đến thời gian bởi chính phép lạ của Ngài. Khoa học “chứng minh” vũ trụ và trái đất đã tồn tại hàng tỉ năm đều phải dựa vào nhiều những giả thuyết không thể chứng thực và cũng rất vô lý. Thế cho nên chúng ta có thể tin Kinh Thánh, tin những gì được ghi trong đó đề cập đến cội nguồn của mọi vật . Nếu một thứ “khoa học” nào đó phản lại Kinh Thánh, thì chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng thứ “khoa học” đó đã phạm phải sai lầm hoặc đã bị hiểu lầm hoàn toàn vì Kinh Thánh là lẽ thật đời đời.

Những nhà tiến hóa thừa nhận với nhau rằng “...những người tin vào sự sáng tạo có chứng cớ tốt hơn.” Điều này là vì những gì chúng ta thấy trong sự sống và trong các hóa thạch không hề có những loại động vật hay thực vật nào ở dạng trung gian, hay dạng sống chuyển đổi. Tiến hóa từ một tế bào thành người là một điều hoàn toàn không thể chứng thực bằng khoa học và phương pháp khoa học.

Vũ trụ còn trẻ - trong trật tự của vài ngàn năm, chứ không phải hàng tỉ năm. Con người, khủng long, và những con voi răng mấu cùng tồn tại trên đất vào cùng một thời điểm. Những chuỗi mắt xích còn thiếu sẽ mãi mãi cứ thiếu! Đức Chúa Trời đã tạo dựng những loài thực vật và động vật hoàn toàn phân biệt từ buổi ban đầu và, với những sự khác biệt nhỏ, chúng là những gì chúng ta thấy ngày hôm nay. Đột biến gien không hề sản sinh ra những dạng sống mới, hay cũng chẳng cải thiện được gì cho dạng sống hiện tại. Đột biến gây nguy hiểm hay thậm chí giết chết sinh vật nào mang nó trong mình. Người tiền sử hoặc là khỉ, hoặc là giả nhân, hoặc là người chứ không có kiểu đang chuyển đổi gien như người vượn hoặc vượn người.

Sự truy tìm điên cuồng các bằng chứng chứng minh tiến hóa từ một Vụ Nổ Lớn đến con người sẽ cứ vây lấy cuộc sống của nhiều người, nhưng nó sẽ kết thúc trong sự chán nản, tuyệt vọng cho những ai tìm kiếm huyền thoại của niềm tin tiến hóa.

Tiến hóa vĩ mô là một cố gắng để trả lời cho những câu hỏi lớn “Tôi đã đến đây như thế nào?” “Tôi là ai?”“Tôi đang đi về đâu?” mà lại không chịu tin nơi Đức Chúa Trời. Chính Chúa đã phán:

“Kẻ ngu dại nói trong lòng mình rằng: chẳng có Đức Chúa Trời ” (Thi thiên 14:1).

“Hãy giữ chừng, kẻo có ai lấy triết học và lời hư không, theo lời truyền khẩu của loài người, sơ học của thế gian, không theo Đấng Christ, mà bắt anh em phục chăng ” (Cô-lô-se 2:8).

“Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giê-hô-va ” (Giê-rê-mi 17:5).

“Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi biết đường của loài người chẳng do nơi họ, người ta đi, chẳng có quyền dẫn đưa bước mình ” (10:23).

“Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người, nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết ” (Châm ngôn 14:12).

Sự đối lập bắt đầu trong Sáng-thế ký 3 vẫn còn cho đến tận ngày nay trong lòng và trí của nhiều người, nhưng trận chiến đã được kết thúc, và chiến thắng thuộc về Đấng Christ tại thập giá, nơi Đức Chúa Jêsus đã chịu đóng đinh.

“Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta,khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8). “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu” (10:9).

Thi thiên 1 nói với chúng ta rằng chỉ có hai con đường để bước đi trên thế giới này mà thôi... một là con đường của tội nhân, hai là con đường của người công bình. Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính mình Ngài qua sự sáng tạo và qua Lời Ngài trong Kinh Thánh, đó chính là con đường công bình. Tất cả chúng ta rồi sẽ đứng trước mặt Ngài và trả lời với Chúa về chính đời sống của chúng ta trên đất này, bất luận đời sống đó đã được dùng để tôn vinh và ngợi khen Đức Chúa Trời hay đã được dùng để tôn cao quyền lực và sự hư vô của thế giới này. Từ sự sa ngã được ghi trong Sáng-thế ký 3, con người đã chú ý đến chính mình hơn là chú ý đến Thượng Đế (Giăng 5:44; 12:34).

Ngay cả là những Cơ Đốc nhân, chúng ta cũng đã trở thành những người gọi “dữ là lành , gọi lành là dữ ” (Ê-sai 5:20). Nhưng nhiều hơn bất cứ điều gì khác trong những lần lầm lỗi mà chúng ta đã trải qua, chúng ta đã để cho chính mình “dời đổi lòng thật thà tinh sạch đối với Đấng Christ” (IICô-rinh-tô 11:3). Chúng ta đã không “bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ” (10:5). Tôi mong muốn các bạn, là Cơ Đốc nhân hay không phải là Cơ Đốc nhân, hãy kiểm tra lại chính niềm tin của mình, xem nó đang được đầu tư vào đâu. Có thể nào chúng ta đã bị những “tranh cãi của các học viện nổi tiếng” đầy sức thuyết phục, những điều để tin đầy ấn tượng, và “thành công” đến sau đó, quyền lực và sự nổi tiếng của thế giới này quyến rũ, cuốn lôi chúng ta đi xa lẽ thật đời đời của Lời Chúa? Lời Ngài là thật (Giăng17:17), nó là lời hằng sống đời đời, sống và linh động (Hê-bơ-rơ 4:12) và chẳng phải là vô ích (Ê-sai 55:11).

Những giả thuyết không thể chứng minh được của cộng đồng khoa học lại được chấp nhận một cách quá dễ dàng trong một xã hội kỹ thuật cao, phức tạp, nhân bản, lý tưởng trị không của riêng ai này của chúng ta. Ngay cả một số đông các Cơ Đốc nhân, những người đằng sau cái vẻ ngoài đạo đức giả của những nhà tiến hóa hữu thần cũng dễ dàng chấp nhận chúng. (Các nhà tiến hóa hữu thần nói rằng: Vâng, tôi biết rằng có Đức Chúa Trời, nhưng Ngài không đủ quyền năng để làm điều gì khác hơn là làm cho cái bánh xe chạy rồi cứ ngồi trên vinh quang của mình!) Nếu những Cơ Đốc nhân ở trong Lời Chúa càng nhiều bao nhiêu, hay nhiều hơn là chúng ta ở trong những niềm tin của thế giới này, thì chúng ta đã tạo cho chính mình cơ hội để lớn lên trong sự nhân từ của Chúa và nhìn biết đường lối Ngài cũng như nhận được sức lực mới từ Đức Thánh Linh để đưa dắt chúng ta vào mọi sự hiểu biết. ICo6-rinh-tô 3:18, 19 đã chép: “Chớ ai tự dối mình : nếu có ai trong vòng anh em tưởng mình khôn ngoan theo cách đời này, hãy trở nên dại dột để được nên khôn ngoan ; vì sự khôn ngoan đời này trước mặt Đức Chúa Trời là sự dại dột.”

Hàng cuối cùng luôn là: Hãy trở lại với đức tin! Chúng ta có sẵn sàng bởi đức tin mà tin nơi Thánh Kinh và cõi đời đời của Đức Chúa Trời không? Tất cả chúng ta đều sống bởi đức tin hoặc tin cái này, hoặc tin cái kia. Không ai có thể viện dẫn lý do cho chính mình để không tin nơi Đức Chúa Trời vì Ngài là vô hạn, còn chúng ta hữu hạn, Ngài là Đấng Tạo Hóa còn chúng ta là tạo vật. Có một vực thẳm bởi tội lỗi đã chia cắt Đức Chúa Trời toàn năng và là Đấng tạo dựng cả vũ trụ khỏi những tạo vật sa ngã của Ngài: là chúng ta! Khi chúng ta từ chối chấp nhận vị trí của chúng ta là thấp hèn và nhỏ mọn (do sự kiêu ngạo và phản loạn) trước một Đấng Tạo Hóa, thì chúng ta có khuynh hướng đi tìm những điều thay thế. Những điều thay thế này khiến chúng ta đánh mất vinh quang của Đức Chúa Trời và chịu trách nhiệm trước Ngài, nó sẽ khiến chúng ta đi vào sự chết đời đời.

Các nhà sáng tạo đã nhiều lần bị cáo buộc là cố gắng “bóp méo khoa học,” một lời cáo buộc không đúng. “Những nguồn gốc của khoa học,” như chúng ta thảy đều đã biết, là những giả thuyết, vốn không thể chứng minh được (dù bằng cách định nghĩa). Những giả thuyết trở thành “sự thật” bởi những con người có uy tín và đầy quyền lực của hệ thống thế giới này sắp xếp các dữ liệu, và tranh luận vấn đề của họ một cách hết sức “logic,” trong khi cộng đồng “Cơ Đốc” đứng đó hoặc chấp nhận (họ không biết Kinh Thánh nói gì), hoặc thầm nghĩ rằng họ không có đủ sức thuyết phục để nghiên cứu các dữ liệu đó và lên tiếng bênh vực cái xứng đáng được gọi là khoa học chân chính, sự sáng tạo.

Lẽ thật lớn nhất có thể nhìn biết được trên toàn cõi địa cầu này đó là Đấng Christ đã chết vì tội nhân, và Đức Chúa Trời đã ban Con Một của Ngài để hoàn thành hành động yêu thương đó. Dù chúng ta là một nhà tiến hóa vô thần, một nhà tiến hóa hữu thần, hay một nhà sáng tạo, cũng không phải là điều chính yếu. Vấn đề là, chúng ta đã cúi mình xuống và dâng trọn sự sống đời đời của mình cho ai...Chỉ bởi sự kiêu ngạo và bội phản mà chúng ta đã phải xa lìa Thiên Chúa của tình yêu, xa lìa khỏi cõi đời đời vinh hiển cũng như sự tha thứ của Đấng Tạo Hóa. Có đáng để chúng ta làm như thế không? Chúa chúng ta phán trong Ma-thi-ơ 11:28-30: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường ” nên “hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta, thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu, gánh ta nhẹ nhàng.”

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời ” (Giăng 3:16).

“Lạy Chúa, con xin chạy đến với Ngài, và ở với Ngài cho đến mãi mãi. A-men ”

 

***HẾT***

 

THUYẾT TIẾN HÓA - Dr. Jobe Martin (vpcgg.org)